23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 37

Khu công viên rậm rạp cây cối mang tên Rừng Boulogne còn có nhiều mệnh danh khác, nhưng người Paris sành điệu thường gọi nó là Vườn lạc thú trần thế. Cụm từ định tính đó, mặc dù nghe có vẻ mĩ miều, nhưng thực ra hoàn toàn ngược lại.

Bất cứ ai đã từng thấy bức tranh ghê rợn cùng tên của Bosch đều hiểu hàm ý châm biếm, bức tranh, cũng như khu rừng, tăm tối và xoắn xuýt, một thứ ngục luyện tội cho những kẻ dị tật tình dục và kẻ kích dục. Tối tối, trên những lối ngoằn ngoèo của khu rừng, hàng trăm thân thể bóng loáng xếp hàng để bán dâm, những lạc thú trần thế nhằm thỏa mãn những khao khát sâu kín nhất không nói ra của người đời - nam, nữ và cả lưỡng tính nữa.

Trong khi Langdon tập trung tư tưởng để nói cho Sophie về Tu viện Sion, thì chiếc tắc xi của họ qua khung cổng gỗ dẫn vào công viên và bắt đầu tiến về hướng tây trên con đường rải sỏi.

Langdon cảm thấy khó tập trung khi đám cư dân ban đêm của công viên đã lác đác xuất hiện từ bóng lối và phô bày "hàng". trong ánh đèn pha. Phía trước họ, hai thiếu nữ mặc áo hở ngực phóng những tia nhìn mời chào vào trong chiếc taxi. Cách đó một quãng, một gã da đen mình bôi dầu bóng nhãy với độc một mảnh vải che chỗ kín, quay người và uốn éo mông. Bên cạnh họ, một phụ nữ tóc vàng loè loẹt kéo cao chiếc váy mini lên để tiết lộ rằng kì thực ả không phải là một phụ nữ.

Chúa cứu con! Langdon quay mặt vào trong ô tô rồi hít một hơi thật sâu.

- Hãy nói cho tôi về Tu viện Sion đi.

Sophie nói.

Langdon gật đầu, không thể tưởng tượng được một khung cánh kém thích hợp đến thế cho truyền thuyết mà ông sắp kể.

Ông băn khoăn không biết bắt đầu từ đâu. Lịch sử của hội kín này bắc qua hơn một thiên niên kỷ.. một biên niên kì lạ về những bí mật, tống tiền, phản bội và thậm chí là cả tra tấn tàn bạo dưới bàn tay của một vị Giáo hoàng nổi giận.

- Tu viện Sion..

Ông bắt đầu.

- Được một vị vua người Pháp có tên là Godefroi de Bouillon thành lập ở Jerusalem năm 1099, ngay sau khi ông ta chinh phục được thành phố này.

Sophie gật đầu, mắt dán vào ông.

- Đức vua Godefroi là người sở hữu một bí mật đầy quyền năng một bí mật đã có trong gia đình ông từ Công nguyên. Sợ rằng bí mật sẽ mất đi khi ông băng hà, ông đã lập ra một hội kín lấy tên là Tu viện Sion và giao cho họ nhiệm vụ bảo vệ bí mật này bằng cách lặng lẽ truyền nó từ đời này sang đời khác.

- Trong những năm ở Jerusalem, Tu viện Sion đã biết một chỗ cất giấu những tài liệu được chôn dưới đống đổ nát của ngôi đền Herod, bản thân ngôi đền này lại được xây dựng trên hoang tàn của ngôi đền thờ Solomon trước đó. Những tài liệu này - họ tin vậy khẳng định cái bí mật đầy quyền năng của Godefroi và, về bản chất, nhạy cảm đến nỗi Nhà Thờ sẽ không từ thủ đoạn nào để giành được chúng.

Sophie có vẻ nghi ngờ.

- Tu viện Sion thề rằng dù có mất bao lâu đi nữa cũng phải thu hồi những tài liệu này từ đống gạch vụn bên dưới ngôi đền thờ đó và mãi mãi bảo vệ chúng, để cho sự thật sẽ trường tồn. Nhằm thu hồi lại chỗ tài liệu từ trong đống đổ nát ấy, Tu viện Sion đã lập ra một binh chủng một đội gồm chín hiệp sĩ có tên gọi là Dòng các Hiệp sĩ nghèo của Chúa Jesus và ngôi đền Solomon.


Langdon dừng lại.

- Họ thường được biết đến nhiều hơn với tên gọi Các Hiệp sĩ Templar.

Sophie ngước lên với cái vẻ ngạc nhiên nhận ra một điều quen thuộc.

Langdon thường xuyên giảng bài về Hiệp sĩ Templar đến độ đủ để biết rằng hầu như mọi người trên trái đất đều đã nghe nói về họ, chí ít là một cách trừu tượng. Đối với các học giả, lịch sử các Hiệp sĩ Templar là một lĩnh vực bất trắc, ở đó thực tế, truyền thuyết và thông tin sai lạc xoắn xuýt với nhau đến độ rút ra được sự thật nguyên khôi là bất khả. Ngày nay, thậm chí Langdon cũng ngần ngại không muốn đề cập đến các Hiệp sĩ Templar trong khi giảng bài vì điều đó bao giờ cũng dẫn đến hàng loạt câu hỏi phức tạp liên quan đến những lý thuyết về đủ loại âm mưu.

Sophie có vẻ hoang mang:

- Anh nói nhóm các Hiệp sĩ Templar được Tu viện Sion lập ra để thu hồi một tập tài liệu bí mật? Tôi cứ tưởng họ được tạo ra để bảo vệ Đất Thánh.

- Một quan niệm sai lầm thường thấy. Ý tưởng về sự bảo vệ những người hành hương chỉ là chiêu bài mà các Hiệp sĩ Templar trương ra để thực hiện sứ mệnh của mình. Mục đích thật sự của họ ở Đất Thánh là thu hồi mớ tài liệu từ dưới đống đổ nát của ngôi đền.

- Và họ có tìm thấy không?

Langdon mỉm cười:

- Không ai biết chắc chắn nhưng có một điều mà tất cả các học giả đều nhất trí là: các Hiệp sĩ đã khám phá ra điều gì đó ở bên dưới đống gạch vụn.. một điều khiến họ trở nên giàu có và đầy quyền lực ngoài sức tưởng tượng ngông cuồng nhất của bất kỳ ai.

Langdon kể lướt cho Sophie nghe lịch sử Các Hiệp sĩ Templar, một phác họa kinh viện được chấp nhận là tiêu chuẩn, giải thích rằng các Hiệp sĩ đó đã ở Đất Thánh trong suốt cuộc Thập tự chinh thứ hai và đã nói với vua Baldwin II rằng họ ở đó để bảo vệ những tín đồ đạo Cơ đốc trên đường hành hương. Mặc dù không được trả công và chịu phận nghèo khổ, các Hiệp sĩ đã nói với nhà vua là họ cần có một nơi trú chân và xin nhà vua cho phép họ ở trong các chuồng ngựa dưới đống đổ nát của đền thờ. Vua Baldwin II chấp thuận yêu cầu của những chiến binh ấy và các Hiệp sĩ tiếp quản nơi cư trú tồi tàn bên trong miếu thờ tan hoang.

Sự lựa chọn kỳ cục nơi cư trú đó, Langdon giải thích, hoàn toàn không phải là được chăng hay chớ. Các Hiệp sĩ tin rằng những tài liệu mà Tu viện Sion tìm kiếm được chôn sâu dưới đống đổ nát - bên dưới Tối Linh Điện, một căn phòng thiêng liêng mà người ta tin rằng đích thân Chúa ngự ở đó. Nói theo nghĩa đen, đây đích thị là trung tâm của tín ngưỡng Do Thái.

Trong gần một thập kỉ sống trong đống hoang tàn đó, chín Hiệp sĩ đã đào xuyên qua lớp đá cứng trong bí mật tuyệt đối.

Sophie nhìn dõi:

- Và anh cho rằng họ đã tìm thấy cái gì đó?

- Tất nhiên rồi!

Langdon giải thích.

- Mất chín năm, nhưng cuối cùng các Hiệp sĩ cũng thấy cái mà họ tìm kiếm. Họ mang kho báu đó ra khỏi đền thờ về châu Âu, nơi mà ảnh hưởng của họ dường như trở nên vững chắc chỉ qua một đêm.

Không ai biết chắc các Hiệp sĩ có tống tiền Vatican hay không, hay đơn giản là Nhà Thờ đã tìm cách mua sự im lặng của họ, nhưng thực tế là Giáo hoàng Innocent II ngay lập tức đã ra một sắc lệnh chưa từng có ở một thời Giáo hoàng nào trước đó là chấp nhận quyền lực vô hạn độ của các Hiệp sĩ Templar và tuyên bố họ "là luật với chính họ" một đội quân độc lập không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào từ đức vua đến giáo chủ, cả tôn giáo lẫn chính trị.

Với toàn quyền hành động mới được Vatican trao cho, tổ chức Hiệp sĩ Templar đã phát triển đến độ chóng mặt cả về số lượng lẫn sức mạnh chính trị, vơ vét những khu đất rộng lớn ở hơn chục quốc gia. Họ bắt đầu cho đám hoàng thân quốc thích bị vỡ nợ vay tiền và lấy lãi, bằng cách đó, họ lập nên những nhà băng hiện đại và làm tăng thêm của cải cũng như ảnh hưởng của họ.

Vào thế kỷ 14, sự công nhận của Vatican đã giúp các Hiệp sĩ Templar nắm được quyền lực lớn đến nỗi Giáo hoàng Clement V quyết định phải làm một cái gì. Cùng bàn thảo với đức vua Pháp Philippe IV, Đức Giáo hoàng đã hoạch định một chiến dịch tài tình để thủ tiêu các Hiệp sĩ Templar và tịch thu của cải của họ, và cuối cùng là kiểm soát những bí mật đã chi phối tòa thánh Vatican. Trong một cuộc điều binh khiển tướng không thua gì CIA, Giáo hoàng Clement đã gửi mật lệnh có dấu niêm phong để các chiến binh của ngài trên khắp châu Âu mở cùng một lúc vào ngày thứ sáu, ngày 13 tháng 10 năm 1307.

Rạng đông ngày mười ba, niêm phong được mở và nội dung kinh hoàng của sắc thư được tiết lộ. Sắc thư của Giáo hoàng Clement nói rằng Chúa đã hiện hình báo mộng cho ngài biết rằng đám Hiệp sĩ Templar là những kẻ dị giáo phạm các tội trọng: thờ phụng quỷ dữ, đồng tính luyến ái làm ô uế thánh giá, kê dâm, và nhiều hành vi báng bổ khác. Giáo hoàng Clement đã được Chúa yêu cầu thanh thông trái đất bằng cách quây bắt tất cả bọn Hiệp sĩ Templar và tra tấn chúng cho đến khi chúng thú nhận những tội chống lại Chúa của chúng. Chiến dịch xảo quyệt của Clement đã diễn ra với sự chính xác của đồng hồ. Vào ngày hôm đó, không thể đếm xuể những Hiệp sĩ Templar đã bị bắt giam, tra tấn một cách tàn nhẫn và cuối cùng bị thiêu trên cọc gỗ như những kẻ dị giáo. Tấn thảm kịch này còn để lại dư âm trong văn hóa hiện đại, cho tới nay, thứ sáu ngày mười ba vẫn bị coi là ngày không may mắn.

Sophie có vẻ bối rối:

- Tổ chức Hiệp sĩ Templar đã bị xóa sạch rồi sao? Tôi tưởng các hội ái hữu Templar đến nay vẫn tồn tại?

- Họ quả vẫn còn tồn tại dưới những cái tên khác nhau. Bất chấp những lời kết tội ngụy tạo và những nỗ lực lớn nhất để xóa sổ họ của Clement, các Hiệp sĩ có những liên minh hùng mạnh và một số người đã thoát khỏi những cuộc thanh trừng của Vatican. Tập tài liệu, kho báu đầy quyền lực của các Hiệp sĩ Templar, nguồn gốc quyền lực của họ, chính là mục tiêu thật sự của Clement, nhưng nó đã lọt qua kẽ tay ông ta. Tập tài liệu từ lâu đã được giao phó cho những người trong bóng tối kiến tạo nên các Hiệp sĩ Templar - Tu viện Sion, những người mà tấm màn bí mật đã che chắn họ an toàn ngoài vòng tấn công ác liệt của Vatican. Khi Vatican khép chặt vòng vây, Tu viện Sion lén lút chuyển những tài liệu đó từ một nơi truyền đạo ở Paris vào ban đêm lên những con tàu của tổ chức Templar đậu ở cảng La Rochelle.

- Những tài liệu đó đã đi đâu?

Langdon nhún vai:

- Câu trả lời cho bí mật đó chỉ có Tu viện Sion biết thôi. Bởi vì tài liệu đó, thậm chí đến ngày nay, vẫn còn là nguồn gốc của những cuộc điều tra, những suy biện không dứt, người ta tin rằng chúng đã được chuyển chỗ cất giấu nhiều lần rồi. Người ta phỏng đoán chỗ cất giấu những tài liệu đó hiện nay là đâu đó trong Vương quốc Anh.

Sophie có vẻ bứt rứt.

- Trong một ngàn năm.

Langdon tiếp tục.

- Những truyền thuyết về bí mật này đã được lan truyền. Toàn bộ tập tài liệu, quyền năng của nó và những bí mật nó thể hiện đã trở nên nổi tiếng bởi một tên gọi duy nhất Sangreal. Hàng trăm cuốn sách đã viết về nó, ít bí mật nào gây ra được nhiều hứng thú trong giới sử học như Sangreal.

- Sangreal à? Tử đó có liên quan gì với từ Pháp sang hay từ tiếng Tây Ban Nha sangre nghĩa là "máu" không?

Langdon gật đầu. Máu là xương sống của Sangreal, nhưng không phải theo cách mà Sophie tưởng tượng.

- Truyền thuyết này thật là phức tạp, nhưng điều quan trọng cần nhớ là Tu viện Sion nắm giữ những bằng cớ và đang chờ đợi thời khắc thích hợp của lịch sử để tiết lộ sự thật.

- Sự thật nào? Bí mật gì có thể quyền năng đến thế?

Langdon hít một hơi thật sâu và nhìn ra đám người lén lút của Paris đang mồi chài bán dâm trong bóng tối.

- Sophie, Sangreal là một từ cổ. Nó đã triển hóa trong nhiều năm thành một khái niệm khác.. một cái tên hiện đại hơn.

Ông dừng lại.

- Khi tôi nói với cô cái tên hiện đại của nó, cô sẽ nhận ra cô biết nhiều về nó. Thực tế, hầu hết mọi người trên trái đất đều đã từng nghe câu chuyện về Sangreal.

Sophie có vẻ nghi ngờ:

- Tôi chưa bao giờ nghe về nó cả.

- Chắc chắn là cô đã nghe.

Langdon mỉm cười.

- Cô chỉ quen nghe thấy nó được gọi bằng cái tên: Chén Thánh!
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 38

Sophie nhìn chòng chọc vào Langdon đang ngồi ở ghế sau chiếc taxi. Anh ta đang đùa.

- Chén Thánh?

Langdon gật đầu, trông ông rất nghiêm túc:

- Chén Thánh là nghĩa đen của Sangreal. Cụm từ đó bắt nguồn từ tiếng Pháp Sangraal, đã biến đổi thành Sangreal, và cuối cùng được chia thành hai từ, San Greal.

Chén Thánh. Sophie lấy làm ngạc nhiên là cô không phát hiện ra được ngay lập tức mối liên hệ ngôn ngữ đó. Ngay cả như vậy lời khẳng định của Langdon vẫn chẳng có nghĩa gì với cô.

- Tôi nghĩ Chén Thánh là một chiếc chén thôi. Ông vừa nói với tôi là Sangreal là một tập tài liệu chứa đựng một số bí mật đen tối mà.

- Đúng thế, nhưng tập tài liệu Sangreal chỉ là một nửa của kho báu Chén Thánh thôi. Chúng được chôn cùng với Chén Thánh.. và tiết lộ ý nghĩa thực sự của nó. Những tài liệu đó mang lại cho các Hiệp sĩ Templar rất nhiều quyền lực bởi vì những trang đó tiết lộ bản chất thật sự của Chén Thánh.

Bản chất thực sự của Chén Thánh? Thậm chí bây giờ, Sophie còn cảm thấy mông lung hơn. Chén Thánh, xưa nay cô vẫn nghĩ, là chiếc ly mà Chúa Jesus đã dùng để uống trong bữa ăn tối cuối cùng và sau đó với nó, Joseph vùng Arimathea đã hứng những giọt máu của Người khi Người bị đóng đinh câu rút.

- Chén Thánh là chiếc ly của Chúa Jesus Christ.

Cô nói.

- Nó có thể đơn giản hơn bao nhiêu nữa?

- Sophie.

Langdon thì thầm, nghiêng về phía cô.

- Theo Tu viện Sion, Chén Thánh hoàn toàn không phải là một chiếc ly. Họ khẳng định truyền thuyết Chén Thánh truyền thuyết về một chiếc ly thực sự là một truyện ngụ ngôn khéo bày đặt. Câu chuyện Chén Thánh đó sử dụng chiếc ly đó như một phép ẩn dụ cho một cái gì đó khác, đó là một thứ gì đó quyền năng hơn rất nhiều.

Ông dừng lại.

- Một thứ gì đó ăn khớp hoàn toàn với mọi điều mà ông cô đã cố nói với chúng ta đêm nay, kể cả mọi quy chiếu biểu tượng đến tính nữ linh thiêng.

Vẫn không chắc chắn nhưng Sophie cảm thấy trong nụ cười kiên nhẫn của Langdon rằng ông cảm thông với sự bối rối của cô và đôi mắt ông thể hiện những cảm xúc thật chân thành.

- Nhưng nếu Chén Thánh không phải là một chiếc chén.

Cô hỏi.

- Thì nó là cái gì?

Langdon biết trước câu hỏi này sẽ đến, nhưng vẫn cảm thấy không biết trả lời cô thế nào cho chính xác. Nếu ông không trình bày trong bối cảnh lịch sử đúng đắn, Sophie sẽ ngẩn mặt ra hoang mang y xì cái vẻ mà Langdon đã nhìn thấy trên gương mặt người biên tập của mình chỉ vài tháng trước đây khi Langdon đưa cho ông này một dự thảo của công trình ông đang soạn.

- Bản thảo này khẳng định cái gì?

Người biên tập của ông mắc nghẹn, đặt ly rượu xuống, nhìn Langdon trửng trừng qua bên trên bữa trưa mới ăn được một nửa của mình.

- Đây không thể là chuyện nghiêm túc!

- Đủ nghiêm túc để dành hẳn một năm trời nghiên cứu về nó đấy!

Nhà biên tập nổi tiếng của New York Jonas Faukman bứt rứt giật giật chòm râu dê của mình. Trong sự nghiệp lừng lẫy của mình, Faukman chắc chắn đã nghe một số ý tưởng điên rồ về sách nhưng ý tưởng này có vẻ làm cho ông bàng hoàng.

- Robert!

Cuối cùng Faukman nói.

- Đừng hiểu sai tôi. Tôi thích tác phẩm của anh, và chúng ta đã có một quá trình hợp tác tuyệt vời với nhau. Nhưng nếu tôi đồng ý xuất bản một ý tưởng như thế này, người ta sẽ vây chặn văn phòng của tôi hàng tháng trời. Ngoài ra, nó sẽ giết chết danh tiếng của anh.

- Lạy Chúa, anh là một nhà sử học của Harvard chứ không phải hạng ca sĩ nhạc pop rẻ tiền tìm cách hốt bạc nhanh. Anh có thể tìm đâu ra đủ bằng chứng đáng tin cậy để bảo vệ một lý thuyết như thế này?

Mỉm cười lặng lẽ, Langdon lôi từ trong túi áo khoác dạ một mảnh giấy, đưa cho Faukman. Trang giấy liệt kê một thư mục với hơn năm mươi tựa đề sách - những cuốn được viết bởi những nhà sử học nổi tiếng, một số đương đại, một số cách đây hàng thế kỷ - nhiều quyển trong số này là sách khoa học bán chạy nhất. Tất cả những tựa sách đó đều gợi ra một tiền đề chung mà Langdon vừa đề xuất. Khi Faukman đọc danh sách đó trông ông giống như một người vừa khám phá ra rằng trái đất thực sự bằng phắng:

- Tôi biết một vài tác giả này Họ là.. những nhà sử học đích thực!

Langdon mỉm cười:

- Như anh thấy đấy, Jonas, đây không chỉ là lý thuyết của tôi. Nó đã tản mác đây đó từ lâu rồi. Tôi chỉ đơn giản xây dựng trên cái nền đó thôi. Chưa có cuốn sách nào khảo sát truyền thuyết về Chén Thánh từ một góc độ ký tượng học. Chứng cứ bằng tranh, tượng minh họa mà tôi tìm được để củng cố lý thuyết của mình là vô cùng thuyết phục.

Faukman vẫn nhìn chằm chằm vào tờ danh sách:

- Chúa ơi, một trong những cuốn sách này được viết bởi ngài Leigh Teabing - nhà sử học hoàng gia của Vương quốc Anh.

- Teabing đã dành nhiều thời gian trong cuộc đời ông để nghiên cứu Chén Thánh. Tôi đã được gặp ông ấy. Ông ấy thực sự là một phần lớn nguồn cảm hứng của tôi. Ông ấy là một người tin vào thuyết này, Jonas ạ, cùng với tất cả những người khác trong danh sách đó.

- Anh đang nói với tôi là tất cả những nhà sử học này đều thực sự tin..

Faukman nuốt đánh ực, rõ ràng là không thốt ra được những từ đó.

Langdon lại mỉm cười:

- Có thể nói Chén Thánh là kho báu được tìm kiếm nhiều nhất trong lịch sử loài người. Chén Thánh đẻ ra những truyền thuyết, những cuộc chiến, những cuộc tìm kiếm kéo dài cả đời người. Bảo nó chỉ đơn thuần là một chiếc chén thì còn có nghĩa gì nữa? Nếu vậy thì chắc chắn những thánh tích khác - Mũ Gai, Thánh Giá đích thực trên đó Chúa Jesus bị đóng đinh câu rút, Titulus - phải gây ra mối quan tâm tương tự hoặc lớn hơn chứ, tuy nhiên, lại không hề như thế. Suốt chiều dài lịch sử, Chén Thánh là thánh tích đặc biệt nhất.

Langdon mỉm cười:

- Bây giờ thì ông đã biết tại sao rồi chứ?

Faukman vẫn lắc đầu:

- Nhưng với tất cả những cuốn sách viết về chủ đề đó, tại sao lý thuyết này vẫn không được biết đến một cách rộng rãi hơn?

- Những cuốn sách này không thể đấu lại được với hàng bao thế kỷ lịch sử đã thiết định, nhất là khi lịch sử được xác nhận bởi cuốn sách bán chạy nhất tối hậu của mọi thời.

Faukman tròn xoe mắt:

- Đừng nói với tôi là Harry Porter cũng thực sự viết về Chén Thánh đấy nhé.

- Tôi đang nói đến Kinh Thánh cơ mà!

Faukman rụt lại:

- Tôi biết rồi!

- Laissezle!

Tiếng quát của Sophie xé không khí bên trong chiếc taxi.

- Đặt nó xuống!

Langdon nhảy dựng lên khi Sophie cúi người về phía trước và hét lên với người lái xe tẩc xi. Langdon có thể nhìn thấy người lái xe đang nắm chặt chiếc máy bộ đàm và nói vào đó.

Lúc này Sophie quay lại và thọc tay vào túi áo khoác của Langdon. Trước khi Langdon kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, cô đã lôi khẩu súng lục ra, dí vào phía sau đầu người lái xe. Người lái xe lập tức buông máy bộ đàm và giơ tay lên.

- Sophie!

Langdon như bị mắc nghẹn.

- Cái quái quỉ gì..

- Arretez!

Sophie ra lệnh cho người lái xe.

Run rẩy, người lái xe phục tùng, dừng xe và đưa vào chỗ đậu.

Đến lúc này thì Langdon mới nghe thấy những âm thanh sắc đanh phát ra từ bản thông báo của công ty taxi: "..qui s'appelle Agent Sophie Neveu.." - chiếc radio nổ lách tách.

- Et un Americain, Robert Langdon..

Cơ bắp của Langdon như cứng ngắc lại. Họ đã tìm thấy chúng ta tồi sao?

- Descendez!

Sophie yêu cầu.

Người lái xe run rẩy vẫn giữ hai tay cao quá đầu khi rời khỏi chiếc xe và lùi vài bước về phía sau.

Sophie hạ kính cửa xe bên phía cô xuống và chĩa súng ra ngoài về phía người tài xế ngơ ngác:

- Robert!

Cô nói khẽ.

- Cầm lấy tay lái, anh sẽ lái xe.

Langdon không muốn cãi lại một phụ nữ đang lăm lăm trong tay một khẩu súng. Ông ra khỏi xe rồi lại nhảy vào sau tay lái.

Người lái xe chửi rủa toáng lên, tay vẫn giơ trên đầu.

- Robert!

Sophie nói vọng từ ghế sau.

- Tôi tin anh đã ngắm đủ khu rừng kỳ diệu của chúng tôi rồi phải không?

Ông gật đầu. Quá đủ là đằng khác.

- Tốt. Hãy lái xe đưa chúng ta ra khỏi đây.

Langdon nhìn xuống bảng điều khiển và ngần ngại. Chết tiệt. Ông rờ rẫm tìm cần số và khớp li hợp.

- Sophie. Có lẽ cô..

- Đi thôi!

Cô kêu lên.

Bên ngoài, mấy ả gái điếm đang tiến lại để xem chuyện gì đang diễn ra. Một phụ nữ đang gọi điện thoại di động. Langdon ấn khớp li hợp và xô mạnh cần số vào số một. Ông sờ vào hộp gia tốc, kiểm tra xăng.

Langdon giật mạnh cần số. Tiếng lốp xe kêu rít lên khi chiếc tắc xi chồm lên phía trước, vọt lên điên dại khiến cho đám đông vội toé ra tìm chỗ trốn. Người phụ nữ đang dùng điện thoại di động vội vọt vào rừng, vừa kịp tránh bị chẹt phải.

- Doucement!

Sophie nói, khi chiếc xe chao đảo trên đường.

- Anh đang làm gì vậy?

- Tôi đã cố cảnh báo cô.

Langdon hét to để át tiếng răng cưa chà xát!

- Tôi đang lái một chiếc xe tự động.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 39

Mặc dù căn phòng khắc khổ bằng đá nâu trên phố La Bruyère đã từng chứng kiến nhiều nỗi thống khổ, nhưng Silas vẫn không tin là có gì sánh tầy nỗi đau đang xiết chặt lấy cơ thể trắng bệch của hắn ta. Mình đã bị lừa. Tất cả đi tong rồi.

Silas đã bị lừa. Những thành viên hội kín đó đã nói dối, thà chết chứ không tiết lộ bí mật thật sự của họ. Silas không còn sức lực để gọi cho Thầy Giáo nữa. Silas không chỉ giết bốn người duy nhất biết nơi cất giấu viên đá đỉnh vòm mà còn giết cả một nữ tu trong nhà thờ Saint-Sulpice nữa.

Bà ta chống lại Chúa! Bà ta coi thường Opus Dei!

Một tội ác trong cơn bồng bột, cái chết của người phụ nữ làm cho sự việc trở nên rắc rối tệ hại. Giám mục Aringarosa đã gọi điện thoại yêu cầu cho Silas đến thăm nhà thờ Saint-Sulpice, cha tu viện trưởng sẽ nghĩ gì khi ông phát hiện ra nữ tu đã chết.

Mặc dù Silas đã đặt bà nằm lại trên giường, thế nhưng vết thương trên đầu bà thật là lộ liễu. Silas đã cố gắng xếp lại những viên gạch vỡ dưới sàn nhà, nhưng sự hư hại quá rõ ràng. Họ sẽ biết là có người đã ở đó.

Silas đã dự tính sẽ ẩn náu trong Opus Dei khi nhiệm vụ ở đây của hắn hoàn thành. Giám mục Aringarosa sẽ bảo vệ mình. Silas không thể tưởng tượng ra cuộc sinh tồn nào đầy diễm phúc hơn một cuộc sống tu hành và cầu nguyện ở trong cùng những bức tường trụ sở chính của Opus Dei ở New York. Hắn sẽ không bao giờ bước chân ra ngoài nữa. Tất cả những gì hắn cần là được ờ trong thánh đường đó. Sẽ không ai nhớ mình nữa.

Rủi thay, Slias biết, một người xuất sắc như giám mục Aringarosa không thể biến mất một cách dễ dàng thế.

Mình đã gây nguy hiểm cho giám mục. Silas đờ dẫn nhìn xuống sàn nhà và suy tính chuyện tự kết liễu đới mình. Xét cho cùng, trước nhất, chính Aringarosa là người đã mang lại cho Slias cuộc sống.. trong căn nhà thờ của xứ đạo ở Tây Ban Nha, dạy dỗ hắn, cho hắn mục đích.

- Bạn thân mến!

Aringarosa đã nói với hắn.

- Con sinh ra đã là một người bạch tạng, đừng để những kẻ khác xúc phạm con vì điều đó. Con không hiểu điều đó làm cho con đặc biệt đến mức nào ư? Con không biết chính Noê cũng là một người bạch tạng ư?

- Noê chủ con Tàu ấy ư?

Silas chưa bao giờ nghe thấy điều này.

Aringarosa mỉm cười:

- Đúng thế, Noê chủ con Tàu cứu các dòng giống trong cơn Đại Hồng Thủy ấy. Một người bạch tạng giống như con vậy, ông có làn da trắng như thiên thần vậy. Hãy suy xét điều này. Noê đã cứu tất cả sự sống trên hành tinh này. Vậy nên con cũng có sứ mệnh làm những việc lớn, Silas ạ. Chúa Trời đã giải thoát cho con vì một lý do. Con có nghiệp của mình. Chúa cần sự giúp đỡ của con để hoàn tất sự nghiệp của Người.

Qua thời gian, Silas học cách tự nhìn nhận mình dưới một ánh sáng mới. Mình tinh khiết, trắng đẹp đẽ như một thiên thần.

Tuy nhiên, lúc này đây, trong căn phòng của hắn tại tu viện, chính là cái giọng thất vọng của cha hắn đang thì thầm với hắn từ quá khứ.

Tu es un désastre. Un spectre.

Quỳ trên sàn gỗ, Silas cầu xin sự tha lỗi. Sau đó trút bỏ áo chùng, hắn tự trừng phạt mình.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 40

Vật lộn với cần số, Langdon vất vả lắm mới điều khiển được chiếc xe tắc xi cưỡng đoạt ra xa khỏi Rừng Boulogne mà chỉ bị chết máy có hai lần. Tệ thay, sự hài hước tự nhiên của tình huống lại bị trùm lấp bởi tiếng người điều phối của hãng tắc xi cứ liên hồi gọi đến chiếc xe qua radio.

- Voiture cinq-six-trois. Oil etcs-vous? Repondez!

Khi Langdon ra đến cổng khu công viên, ông nhấn phanh, nuốt cái kiêu hãnh của kẻ mày râu mà rằng:

- Cô nên lái thì hơn.

Trông Sophie có vẻ nhẹ nhõm hẳn khi ngồi vào sau tay lái.

Trong vòng vài giây, cô đã điều khiển được chiếc xe chạy êm ru về phía Tây, dọc theo con đường Allée de Longchamp, bỏ Vườn lạc thú trần thế lại đằng sau.

- Đến phố Haxo đi đường nào?

Langdon hỏi, nhìn Sophie tăng tốc với hơn một trăm kilômet/giờ.

Mắt Sophie vẫn tập trung vào mặt đường:

- Tay lái xe bảo nó kề với sân tennis Roland Garros. Tôi biết khu đó.

Langdon lại lôi từ túi ra chiếc chìa khóa, cảm thấy sức nặng trong lòng bàn tay. Ông cảm thấy nó là một vật có tầm quan trọng lớn lao. Rất có thể là chìa khóa dẫn đến tự do của ông.

Ban nãy, khi nói cho Sophie nghe về tổ chức Hiệp sĩ Templar, Langdon nhận ra rằng chiếc chìa khóa này, ngoài con triện khắc nổi của Tu viện Sion, còn có một liên quan tinh tế hơn với Tu viện đó. Chữ thập bốn nhánh bằng nhau là biểu tượng của cân bằng và hài hòa nhưng cũng là biểu tượng của Hiệp sĩ Templar.

Ai nấy đều đã thấy những bức tranh vẽ các Hiệp sĩ Templar mặc áo trắng với hình chữ thập đỏ bốn nhánh bằng nhau. Dành rằng bốn nhánh của chữ thập Templar có hơi loe ra ở cuối nhưng chúng vẫn dài bằng nhau.

Một dấu thập vuông nhánh. Y hệt dấu thập trên chiếc chìa khóa này.

Langdon cảm thấy trí tưởng tượng của mình bắt đầu tung bay khi ông mơ đến những gì họ có thể tìm thấy. Chén Thánh.

Ông suýt phá lên cười về sự phi lý của điều mơ tướng đó.

Người ta tin rằng Chén Thánh ở đâu đó trong nước Anh, chôn trong một căn phòng bí mật bên dưới một trong những nhà thờ của các Hiệp sĩ Templar, nơi nó được cất giấu ít nhất là từ năm 1500.

Thời kỳ của đại danh họa Da Vinci.

Tu viện Sion, để giữ an toàn cho xấp tài liệu đầy quyền năng của mình, đã bắt buộc phải di chuyển chúng nhiều lần trong những thế kỷ trước đây. Các nhà sử học ngày nay đoán rằng có sáu địa điểm khác nhau cất giữ Chén Thánh từ khi nó đến châu Âu từ mảnh đất Jerusalem. Lần "hiển thị" cuối cùng của Chén Thánh là vào năm 1147, khi nhiều chứng nhân miêu tả rằng một ngọn lửa bùng ra và suýt nuốt chửng những tài liệu đó trước khi chúng được chuyển đến nơi an toàn trong bốn chiếc rương lớn, mỗi cái phải sáu người khiêng. Sau đó, không ai dám khoe là đã nhìn thấy Chén Thánh nữa. Tất cả những gì sót lại là thi thoảng có những lời xì xào rằng nó được cất giấu ở Anh, vùng đất của Vua Arthur và các Hiệp sĩ Bàn Tròn.

Bất kể nó ở đâu, thì vẫn tồn tại hai thực tế quan trọng:

Trong suốt cuộc đời của mình Lconardo biết Chén Thánh ở đâu. Chỗ cất giấu đó có lẽ không thay đổi cho đến ngày nay.

Vì lí do này, những kẻ nhiệt thành với Chén Thánh vẫn nghiền ngẫm nhật ký và các tác phẩm nghệ thuật của Da Vinci với hy vọng phát hiện được một bằng cớ ẩn giấu giúp họ đi đến nơi hiện tại cất giấu Chén Thánh. Một số người khẳng định khung cảnh núi non trong bức tranh Madonna of the Rocks phù hợp với địa hình của hàng loạt những quả núi có hang động ở Scotland. Một số khác lại khăng khăng rằng cách sắp xếp đáng ngờ những tông đồ của Chúa Jesus trong bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng là một loại mã số. Lại có những người khác quả quyết rằng chiếu tia X qua bức Mona Lisa cho thấy ban đầu nàng được vẽ với một chiếc vòng ngọc bích của Isis đeo quanh cổ một chi tiết mà có lẽ sau này Da Vinci đã quyết định xóa đi. Langdon chưa từng nhìn thấy bất cứ bằng chứng nào về chiếc vòng đó, ông cũng không thể tưởng tượng được làm cách nào mà nó có thể chỉ ra Chén Thánh, thế nhưng những người say mê Chén Thánh vẫn bàn luận về nó đến phát buồn nôn trên những bản tin Internet và trong những phòng chat trên mạng toàn cầu.

Ai cũng thích chuyện âm mưu.

Và những chuyện âm mưu tiếp tục đến. Cần đây nhất, tất nhiên, là sự khám phá gây chấn động rằng bức Tôn sùng ba Vua trứ danh của Da Vinci giấu một bí mật đen tối dưới những lớp sơn của nó. Nhà giám định nghệ thuật người Ý Mauvizio Seracini đã vén bức màn bí ẩn về sự thật gây khuấy động mà tờ Thời báo New York đã đăng nổi bật trong một bài nhan đề Bí mật bị che phủ của Leonardo.

Seracim đã vạch ra rành rành không thể nghi ngờ rằng mặc dù phần vẽ phác thảo màu xanh xám bên dưới của bức Tôn sùng ba Vua đích thực là tác phẩm của Da Vinci nhưng bản thân bức tranh lại không phải. Sự thật là một họa sĩ vô danh nào đó đã điền thêm vào phác ha của Da Vinci như một sáng tác tập thể nhiều năm sau khi Da Vinci chết. Tuy nhiên, rắc rối hơn nữa là cái nằm bên dưới lớp sơn của kẻ mạo danh. Các bức ảnh được chụp với bức xạ hồng ngoại và tia X đã gợi mở rằng, tay ha sĩ lừa đảo này, trong khi bổ sung vào bản phác thảo của Da Vinci, đã tạo những nét đáng nghi ngờ khác với bức phác ha.. như thể là để biến đổi ý đồ thật sự của Da Vinci. Cho dù bản chất thực sự của bức phác thảo là gì, thì nó cũng cần được công bố. Thậm chí như vậy, những người điều hành của Bảo tàng Ufizi ở Florence bị câu chuyện làm cho lúng túng đã xếp xó bức tranh này vào một nhà kho bên kia đường ngay lập tức.

Các khách tham quan gian phòng Leonardo của bảo tàng giờ thấy ở chỗ đã từng treo bức Tôn sùng Ba Vua một tấm bảng đánh lạc hướng mà chẳng hề ngỏ ý cáo lỗi.

Trong cái thế giới ngầm kì quái của những người hiện đại tìm kiếm Chén Thánh, Leonardo Da Vinci vẫn là bí ẩn lớn nhất trong cuộc tìm kiếm. Các tác phẩm nghệ thuật của ông dường như bức xúc muốn nói ra một bí mật, thế nhưng bất kể bí mật đó là gì thì nó vẫn bị giấu kín, có thể ở bên dưới một lớp sơn, có thể được mã hóa ngay trước mắt, hoặc có thể chẳng ở đâu cả. Có thể quá nhiều manh mối trêu ngươi từ Da Vinci chẳng là gì khác ngoài một lời hứa suông ông để lại nhằm làm tẽn tò những kẻ hiếu kỳ và mang lại nụ cười tự mãn ra-điều-ta-đây- biết-thừa trên gương mặt nàng Mona Lisa của ông.

- Có thể nào..

Sophie hỏi, kéo Langdon trở về thực tế.

- Chiếc chìa khóa ông cầm là để mở cửa nơi cất giấu Chén Thánh không?

Tiếng cười của Langdon nghe gượng gạo, kể cả đối với chính ông:

- Tôi thực sự không tưởng tượng được. Hơn nữa, người ta tin rằng Chén Thánh được giấu đâu đó ở Vương quốc Anh, không phải ở Pháp.

Ông kể ngắn gọn cho cô nghe về lịch sử.

- Nhưng Chén Thánh dường như là kết luận hợp lý duy nhất.

Sophie khăng khăng.

- Chúng ta có một chiếc chìa khóa cực kỳ đảm bảo, khắc con dấu của Tu viện Sion, đến tay chúng ta từ một thành viên của Tu viện Sion một hội kín mà ông đã nói với tôi là những người bảo vệ Chén Thánh.

Langdon biết lời phản bác của cô là logic, nhưng bằng trực giác, ông không thể chấp nhận nó. Những lời đồn đại nói rằng Tu viện Sion đã thề một ngày nào đó sẽ mang Chén Thánh trở về Pháp như nơi an nghỉ cuối cùng, nhưng chắn chắn là không hề có bằng chứng lịch sử nào cho thấy rằng điều này đã thực sự xảy ra. Thậm chí nếu Tu viện Sion đã cố gắng mang được Chén Thánh về Pháp thì địa chỉ 24 Phố Haxo gần sân tennis nghe không có vẻ giống như chốn dừng chân cuối cùng cao quý cho lắm.

- Sophie, tôi thực sự không hiểu chiếc chìa khóa này có liên quan gì đến Chén Thánh.

- Bởi vì Chén Thánh được cho rằng đang ở Anh hay sao?

- Không chỉ có thể. Chỗ cất giấu Chén Thánh là một trong những bí mật được giữ kín nhất trong lịch sử. Các thành viên của Tu viện Sion phải trải qua hàng thập kỷ để chứng tỏ mình đáng tin cậy trước khi được thăng lên những cấp cao nhất của hội và được biết Chén Thánh ở đâu. Bí mật đó được bảo vệ bởi một hệ thống nhằng nhịt những thông tin phân tầng phân cấp và mặc dù số lượng thành viên của Tu viện Sion rất lớn, nhưng ở bất cứ thời điểm nào cũng chỉ có bốn người biết được Chén Thánh được cất giấu ở đâu. Người đứng đầu tối cao và ba cộng sự của ông ta. Khả năng ông của cô là một trong bốn người đứng đầu đó là rất nhỏ.

Ông mình là một trong bốn người đó, Sophie nghĩ chân nhấn ga. Có một hình ảnh in đậm trong kí ức cô xác nhận cương vị quan trọng của ông cô trong hội một cách chắc chắn không thể nghi ngờ.

- Và ngay cả nếu ông cô có thuộc cấp cao nhất, ông cũng không bao giờ được phép tiết lộ bất cứ thứ gì cho bất kỳ ai ngoài hội. Thật không thể quan niệm được rằng ông đưa cô vào trong nội bộ hội.

Mình đã ở đó, Sophie nghĩ, hình dung lại buổi lễ trong tầng hầm. Cô tự hỏi liệu bây giờ có phải là lúc nói cho Langdon biết những gì cô chứng kiến đêm hôm đó tại tòa lâu đài ở Normandy không. Mười năm rồi, chỉ đơn giản là sự xấu hổ đã kiềm giữ không cho cô nói ra điều đó với một ai. Chỉ nghĩ đến nó thôi, cô đã rùng mình. Tiếng còi xe cảnh sát hú đâu đó đằng xa, cô cảm thấy một cơn mệt mỏi tăng dần như tấm chăn trùm lên mình.

- Kia rồi!

Langdon nói, cảm thấy phấn khích khi nhìn thấy quần thể sân tennis Roland Caros đồ sộ hiện ra phía trước.

Sophie lách xe ngoằn ngoèo về phía sân vận động. Sau mấy chỗ rẽ, họ tìm thấy ngã tư phố Haxo, và rẽ vào đó, đi theo hướng những nhà mang số nhỏ dần. Con phố mang vẻ công nghiệp hơn với những hãng kinh doanh hai bên đường.

Chúng ta tìm số hai mươi tư cơ mà, Langdon tự nhắc khi nhận ra mình đang kín đáo rà tìm chóp tháp của một nhà thờ. Đừng có kỳ cục thế, một nhà thờ bị lãng quên của tổ chức Hiệp sĩ Templar ở khu này?

- Kia rồi!

Sophie vừa kêu vừa chỉ tay.

Langdon đưa mắt nhìn theo tới một kiến trúc phía trước. Cái quái gì thế này?

Tòa nhà thật hiện đại. Một tòa thành thấp với một chữ thập vuông nhánh khổng lồ bằng đèn neon trên đỉnh mặt tiền. Bên dưới chữ thập là dòng chữ:

Langdon thầm cảm ơn vì đã không ngỏ với Sophie rằng ông đã hy vọng tìm tấy một nhà thờ của các Hiệp sĩ Templar. Một trong những rủi ro nghề nghiệp của các nhà kí tượng học là có xu hướng rút ra ẩn ý từ những tình huống không hàm chứa ẩn ý đó. Trong trường hợp này, Langdon đã quên khuấy rằng chữ thập vuông nhánh hòa bình đã được chọn làm biểu tượng hoàn hảo trên quốc kỳ của nước Thuy Sĩ trung lập. Chí ít, bí ẩn cũng đã được giải quyết.

Sophie và Langdon cầm chìa khóa tới một két sắt trong một ngân hàng Thuỵ Sĩ.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 41

Bên ngoài Castel Gandolfo, một luồng gió núi thổi thốc lên, tràn qua đỉnh vách đá làm giám mục Anngarosa rùng mình ớn lạnh khi ông bước ra từ chiếc Fiat. Lẽ ra ta nên mặc thêm gì đó ngoài chiếc áo chùng này, ông nghĩ vậy, cố dẹp cơn run theo phản xạ. Điều tối kị đối với ông tối nay là tỏ ra yếu đuối hay sợ hãi.

Tòa lâu đài tối om ngoại trừ những cửa sổ trên cùng, nơi hắt ra một thứ ánh sáng đáng ngại. Đó là thư viện. Giám mục Aringarosa nghĩ bụng. Họ còn thức và đang đợi. Ông cúi đầu tránh gió và tiếp tục bước, thậm chí không buồn liếc mắt về phía đài thiên văn.

Vị tu sĩ đón ông ở cửa trông có vẻ buồn ngủ. Đó cũng chính là người đã nghênh đón Aringarosa cách đây năm tháng, tuy nhiên tối nay, ông ta làm nhiệm vụ đó kém nồng hậu hơn nhiều.

- Chúng con rất lo cho cha, thưa cha Giám mục.

Người tu sĩ vừa nói vừa nhìn đồng hồ, trông có vẻ bối rối hơn là lo lắng.

- Tôi xin lỗi. Thời buổi này, hàng không chẳng mấy đáng tin cậy.

Người tu sĩ lí nhí câu gì đó nghe không rõ rồi nói:

- Mọi người đang đợi cha trên tầng. Con xin đưa cha lên.

Thư viện là một phòng rộng vuông vắn được lát và ốp bằng một loại gỗ màu sẫm từ sàn cho đến tận trần. Ở mọi phía, những giá cao ngất chất đầy sách. Sàn lát đá cẩm thạch có trang trí các họa tiết bằng đá bazan, một nét đẹp nhắc ta hay rằng tòa nhà này có thời đã từng là cung điện.

- Hoan nghênh Đức Giám mục.

Một giọng đàn ông vọng ra từ phía trong căn phòng.

Aringarosa cố để ý xem ai vừa nói nhưng đèn mờ tối một cách kỳ cục, tối hơn nhiều so vởi lần đầu tiên ông đến đây khi đó mọi thứ đều rực sáng. Đêm thức tỉnh hoàn toàn. Còn đêm nay, những người này ngồi trong bóng tối, như thể cách nào đó, họ cảm thấy xấu hổ vì những điều sắp sửa lộ ra.

Aringarosa chậm rãi bưởc vào, thậm chí còn có vẻ vương giả là đằng khác. Ông thấy ba người đàn ông ngồi tại chiếc bàn dài ở phía xa của căn phòng. Người ngồi giữa chỉ nhìn dáng cũng nhận ra ngay - vị Thư ký béo phệ của Tòa Thánh Vatican, người cai quản tất cả các vấn đề có liên quan đến luật pháp trong phạm vi thành phố Vatican. Hai người kia đều là những Hồng y giáo chủ cao cấp của Ý.

Aringarosa đi ngang qua thư viện về phía họ:

- Tôi xin cúi đầu cáo lỗi vì đã đến vào cái giờ muộn mằn này. Múi giờ của chúng ta khác nhau. Chắc các ngài rất mệt.

- Không hề, vị thư kí nói, hai tay chắp trên cái bụng phệ vĩ đại." Đội ơn ngài đã từ xa đến đây. Điều tối thiểu chúng tôi có thể làm là thức để gặp ngài. Ngài có muốn dùng một tách cà phê hay nước giải khát không?

- Tôi muốn chúng ta đừng coi đây là một cuộc thăm viếng xã giao. Tôi còn phải đáp một chuyến bay nữa. Liệu chúng ta có thể đi thẳng vào công việc được không?

- Tất nhiên.

Người thư kí nói.

- Ngài hành động nhanh hơn chúng tôi tưởng đấy.

- Ngài vẫn còn những một tháng nữa.

- Các ngài đã cho biết những điều các ngài quan tâm từ năm tháng trước.

Aringarosa nói.

- Vậy thì tại sao tôi lại phải đợi?

- Thật vậy. Chúng tôi rất hài lòng với kế hoạch của ngài.

Aringarosa đưa mắt dọc theo chiều dài của chiếc bàn tới một chiếc cặp đen.

- Đây có phải là thứ tôi đã yêu cầu không?

- Nó đấy!

Giọng người thư kí nghe có vẻ bồn chồn.

- Mặc dù tôi phải thừa nhận rằng chúng tôi có phần lo lắng vì yêu cầu đó. Nó có vẻ khá..

- Nguy hiểm!

Một trong số các vị hồng y giáo chủ nói nốt.

- Ngài có chắc là chúng tôi không thể chuyển ngân cho ngài tới một địa điểm nào đó sao? Khoản tiền này thật quá lớn.

- Tự do là đắt giá. Tôi không hề lo ngại gì cho sự an toàn của chính mình. Chúa luôn ở bên tôi.

Các vị chủ nhân thực sự có vẻ nghi ngờ.

- Số tiền này đúng như tôi đã yêu cầu chứ?

Người thư kí gật đầu:

- Đó là những trái phiếu có mệnh giá cao rút từ Ngân hàng Vatican. Có thể chuyển thành tiền mặt ở bất kì nơi nào trên thế giới.

Aringarosa bước về phía cuối bàn và mở chiếc cặp. Bên trong là hai tập dày trái phiếu, mỗi tờ đều in hình con dấu của Vatican và chữ PORTATOR khiến tớ trái phiếu có thể giải ngân cho bất kì ai mang nó.

Người thư kí có vẻ căng thẳng:

- Tôi phải nói với ngài, thưa Đức Giám mục, tất cả chúng tôi sẽ cảm thấy đỡ lo hơn nếu như khoản này ở dạng tiền mặt.

Nếu bằng tiền mặt làm sao ta có thể nhấc nổi. Aringarose nghĩ bụng rồi đóng chiếc cặp số lại.

- Trái phiếu cũng có thể sử dụng như tiền mặt. Chính ngài đã nói với tôi như vậy mà.

Các vị Hồng y giáo chủ nhìn nhau ngại ngùng, và cuối cùng một người lên tiếng:

- Phải, nhưng những tờ trái phiếu này đều có thể truy xuất xứ trực tiếp về Vatican.

Aringarosa cười thầm. Đó đích thị là lí do khiến Thày giáo đã gợi ý cho ông nên nhận tiền dưới dạng trái phiếu của Ngân hàng Vatican. Điều đó coi như bảo hiểm. Tất cả chúng ta giờ đây là cùng hội cùng thuyền.

- Đây là một cuộc giao dịch hoàn toàn hợp pháp.

Aringarosa trấn an.

- Opus Dei là một giám mục đoàn riêng của thành phố Vatican, và Đức Giáo hoàng có thê giải ngân được bất cứ lúc nào mà ngài thấy thích hợp. Ở đây hoàn toàn không hề có gì phạm pháp cả.

- Đúng vậy, nhưng..

Vị thư kí cúi về phía trước và chiếc ghế kêu ken két dưới sức nặng.

- Chúng tôi không hề biết ngài định làm gì với khoản tiền này, và nếu như nó bị sử dụng bất hợp pháp..

- Xét những gì các ngài yêu cầu ở tôi..

Aringarose đối đáp.

- Thì việc tôi làm gì với khoản tiền này không can hệ gì đến ngài.

Im lặng kéo dài.

Họ biết là ta có lý. Aringarosa nghĩ thầm.

- Tôi đoán bây giờ chắc các ngài có thứ gì đó cho tôi kí vào chứ?

Tất cả bật dậy, sốt sắng đẩy tờ giấy về phía giám mục, như thể họ muốn ông cuốn xéo đi cho mau.

Aringarosa đưa mắt nhìn tờ giấy trước mặt mình, có đóng triện của Giáo hoàng:

- Bản này hệt với bản mà các ngài đã gửi cho tôi chứ?

- Chính xác!

Aringarosa ngạc nhiên thấy mình chẳng mấy xúc động khi kí vào văn bản đó. Nhưng hình như ba người kia lại thở phào nhẹ nhõm.

- Cảm ơn, ngài Giám mục.

Vị thư kí nói.

- Công lao của ngài đối với Giáo hội sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Aringarosa nhấc chiếc cặp lên, cảm nhận rõ triển vọng tốt đẹp cũng như uy quyền trong sức nặng của nó. Trong khoảnh khắc bốn người nhìn nhau như thể họ còn điều gì muốn nói song có lẽ chẳng còn gì để nói. Aringarosa quay người và đi về phía cửa.

- Ngài Giám mục?

Một trong hai vị Hồng y giáo chủ gọi to khi Aringarosa đã đi với ngưỡng cửa.

Aringarosa dừng bước, quay lại:

- Dạ?

- Ngài sẽ đi đâu từ đây?

Aringarosa cảm thấy câu hỏi này thuộc lĩnh vự tâm linh hơn là địa lý, nhưng ông không mảy may có ý định bàn về đạo lý trong giờ phút này.

- Đến Paris!

Ông đáp rồi bước ra khỏi cửa.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 42

Ngân hàng ký thác Zurich là một ngân hàng Geld-schrank phục vụ 24/24 giờ, đem lại cho khách hàng cả loạt đầy đủ các dịch vụ nặc danh hiện đại theo truyền thống tài khoản đánh số của Thụy Sỹ. Trong những năm gần đây, bằng việc duy trì các trụ sở ở Zurich, Kuala Lumpur, New York và Paris, ngân hàng đã mở rộng các dịch vụ của mình nhằm sử dụng các mã thông tin từ máy tính mang tính chất nặc danh và cả đĩa sao lưu số hóa cũng nặc danh.

Nguyên tắc hoạt động chủ yếu của ngân hàng vẫn là cách phục vụ cổ nhất và đơn giản nhất - bảo đảm nặc danh - dịch vụ "mù" gọi cách khác là những hộp kí thác an toàn nặc danh.

Khách hàng muốn cất giữ bất cứ thứ gì, từ giấy chứng nhận mua cổ phiếu cho đến những bức ha đáng giá đều có thể ký thác nặc danh tài sản của họ, thông qua một loạt những phương tiện công nghệ cao đảm bảo bí mật riêng tư, có thể rút về bất kì lúc nào, cũng theo phương thức hoàn toàn nặc danh.

Khi Sophie dừng chiếc tắc xi trước nơi họ định đến, Langdon đưa mắt quan sát lối kiến trúc cứng nhắc của tòa nhà và cảm thấy Ngân hàng ký thác Zurich là một hãng chẳng mấy có khiếu hài hước. Tòa nhà là một khối chữ nhật kín mít không có lấy một ô cửa sổ, như thể đúc toàn bằng thép xỉn. Tựa một viên gạch kim loại khổng lồ, tòa nhà nằm thụt lùi khỏi mặt đường với một chiếc thập vuông nhánh bằng đèn nêông cao năm mét, tỏa sáng rực rỡ khắp mặt tiền.

Danh tiếng của Thụy Sĩ về tôn trọng bí mật trong lĩnh vực ngân hàng đã khiến ngành này trở thành một trong số những hoạt động xuất khẩu mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho quốc gia này. Những cơ sớ như thế này đã thành đầu đề tranh cãi trong cộng đồng nghệ thuật vì chúng cung cấp một nơi lí tưởng cho bọn trộm nghệ thuật cất giấu đồ ăn cắp, trong hàng năm trời nếu cần thiết, cho tới khi sự xôn xao lắng đi.

Hàng ký thác được bảo vệ an toàn, tránh khỏi sự điều tra của Cảnh sát do những điều luật bảo vệ sự riêng tư cá nhân, chúng gắn với tài khoản đánh số chứ không phải tên của người gửi, nên những tên trộm có thể ngủ yên khi biết chắc rằng của cải ăn trộm vẫn an toàn mà cảnh sát không bao giờ truy ra chúng.

Sophie dừng xe tại chiếc cổng bề thế chắn ngang đường lái xe vào ngân hàng - một đoạn dốc lát ximăng đi xuống dưới tòa nhà. Một chiếc camera phía trên chĩa thẳng vào họ, Langdon có cảm giác chiếc này là thật chứ không để làm vì như ở Louvre.

Sophie hạ kính cửa xe xuống và quan sát cái bục điện tử về mé bên tay lái. Đó là một màn hình tinh thể lỏng có những lời chỉ dẫn được viết bằng bảy thứ tiếng. Trên đầu danh sách là tiếng Anh.

INSERT KEY (TRA CHÌA VÀO)

Sophie rút từ túi áo ra chiếc chìa khóa vàng, rồi hướng sự chú ý trở lại chiếc bục. Bên dưới màn hình là một ổ có hình tam giác.

- Linh tính báo với tôi là sẽ vừa khít.

Langdon nói.

Sophie tra chiếc chìa khóa vào ổ, từ từ ấn cho tới khi cái thân chìa hình trụ tam giác lút hết vào trong. Rõ ràng chìa này không cần xoay. Lập tức cánh cổng bắt đầu mở ra. Sophie nhả phanh chân rồi cho xe trôi xuống tới một cái cổng kèm theo bục thứ hai. Phía sau cô, cổng đầu tiên đóng sập, nhốt họ lại như một con thuyền mắc cạn.

Langdon ghét cái cảm giác bị bó hẹp này. Hy vọng rằng cổng thứ hai này cũng mở ngon nhu thế.

Chiếc bục thứ hai cũng mang ngần ấy lời hướng dẫn.

INSERT KEY (TRA CHÌA VÀO)

Khi Sophie tra chìa vào, ngay lập tức cổng thứ hai mở ra. Vài phút sau, xe ngoằn ngoèo xuống nốt đoạn dốc, chui vào trong bụng tòa nhà.

Khu đậu xe riêng nhỏ hẹp và mờ tối, đủ chỗ cho khoảng một tá xe. Ở đầu đằng kia, Langdon phát hiện thấy lối chính vào tòa nhà. Một tấm thảm đỏ trải khắp mặt sàn ximăng đón khách vào một cánh cửa to tướng, vẻ như đúc bằng kim loại cứng.

Chà những thông điệp hỗn độn nước đôi, Langdon nghĩ thầm. Hoan nghênh, nhưng hãy đứng ngoài.

Sophie lái chiếc tắc xi vào chỗ đậu gần với lối vào, rồi tắt máy:

- Anh nên để súng lại trong xe thì hơn.

Rất vui lòng, Langdon nghĩ bụng, nhét khẩu súng lục xuống dưới ghế ngồi.

Sophie và Langdon ra khỏi xe rồi bước trên tấm thảm đỏ về phía tấm thép khổng lồ. Cửa không có tay kéo, nhưng trên tường bên cạnh, có một lỗ khóa hình tam giác. Lần này không kèm theo lời chỉ dẫn nào.

- Cho bọn chậm hiểu đứng ngoài.

Langdon nói.

Sophie cười, vẻ bồn chồn:

- Nào ta đi.

Cô ấn chìa vào lỗ khóa và cánh cửa mở vào phía trong với một tiếng ì ì nhẹ. Đưa mắt nhìn nhau, cả hai cùng bước vào. Cánh cửa đóng dánh thịch sau lưng họ.

Phòng chờ của Ngân hàng Ký thác Zurich có kiểu trang trí dữ dằn nhất mà Langdon từng thấy. Ở những chỗ mà phần lớn các ngân hàng chỉ dùng đá hoa và granite nhẵn bóng thì ngân hàng này chọn kim loại và đinh tán chạy suốt từ tường này sang tường kia.

Ai trang trí cho họ vậy? Langdon tự hỏi. Hợp kim thép. Sophie cũng có vẻ e ngại khi đảo mắt nhìn khắp sảnh.

Kim loại xám hiện diện khắp nơi - sàn trần, các quầy, cửa ra vào, thậm chí ghế ngồi ở sảnh cũng có vẻ như đúc bằng sắt.

Mặc dù vậy, hiệu quả vẫn gây ấn tượng. Thông điệp là rõ ràng: Quý khách đang đi vào khu cất giữ đồ ký thác.

Một người cao lớn ở phía sau bàn ghi sê ngước mắt nhìn khi họ bước vào. Anh ta vội tắt chiếc ti vi cá nhân đang xem rồi chào đón họ bằng một nụ cười niềm nở. Mặc dù cơ bắp cuồn cuộn và khẩu súng bên sườn gồ lên lồ lộ, giọng anh ta rất phù hợp với phong thái lịch thiệp của một gã bồi khách sạn Thụy Sĩ.

- Bosoir.

Anh ta nói.

- Tôi có thể giúp được gì quý khách không?

Lời chào bằng hai thứ tiếng Anh, Pháp là nghệ thuật giao tiếp mới nhất hiện nay của các ông chủ ở châu Âu. Nó không mặc định gì hết và để ngỏ cho khách thoải mái trả lời bằng thứ tiếng nào tiện hơn cho họ.

Sophie không đáp lại bằng thứ tiếng nào. Cô chỉ đặt chiếc chìa khóa bằng vàng lên chiếc bàn ghi sê phía trước mặt người đàn ông.

Người này nhìn xuống rồi ngay lập tức đứng thẳng lên:

- Tất nhiên rồi. Thang máy của quý khách ở phía cuối sảnh này. Tôi sẽ báo cho họ biết là quý khách đang đến.

Sophie gật đầu rồi lấy lại chiếc chìa khóa:

- Tầng mấy?

Người phục vụ nhìn cô với ánh mắt kì lạ:

- Chính chìa khóa của quí khách chỉ dẫn cho thang máy đến tầng nào.

Cô cười:

- À phải!

Người bảo vệ dõi theo hai người khách mới tới đang đi về phía thang máy, tra chìa vào ổ, bước vào thang máy và khuất dạng.

Ngay sau khi cửa thang máy đóng lại, anh ta chộp lấy điện thoại. Anh ta không gọi để báo cho ai đó biết họ đang đến, điều đó không cần thiết. Người trông giữ hầm két đã được cảnh báo ngay sau khi khách hàng tra chìa ở cổng vào.

Thay vào đó, người bảo vệ gọi cho người quản trị trực đêm.

Khi chuông điện thoại rung lên, người bảo vệ lại tiếp tục bật màn hình lên rồi nhìn chằm chằm vào đó. Bản tin anh ta xem dở dang trước đó vừa mới kết thúc. Không sao. Anh ta nhìn một lần nữa vào hai gương mặt kia trên màn hình ti vi.

Người quản trị trực đêm trả lời:

- Gì thế?

- Tình huống đặc biệt dưới này.

- Chuyện gì đang diễn ra vậy?

Người quản lí hỏi.

- Đêm nay, cảnh sát Pháp đang truy tìm hai kẻ đào tẩu.

- Thì sao?

- Cả hai tên đó vừa đi vào nhà băng của chúng ta.

Người quản trị trực đêm khẽ chửi thề:

- Được. Tôi sẽ liên lạc ngay với ông Vernet.

Người bảo vệ gác máy rồi lại gọi thêm một cuộc nữa. Lần này cho Interpol.


***

Langdon ngạc nhiên cảm thấy thang máy đang đi xuống chứ không phải đi lên. Ông không biết họ đã đi sâu xuống phía dưới Ngân hàng Ký thác Zurich bao nhiêu tầng trước khi cửa thang máy, rốt cuộc, mở ra. Ông bất cần. Ông cảm thấy sung sướng được ra khỏi thang máy.

Tỏ ra hết sức sốt sắng, một vị chủ nhân đã đứng sẵn đó để chào đón họ. Đó là một ông già hòa nhã, mặc một bộ com-lê flannel là phẳng phiu khiến ông trông thật lạc lõng - một ông chủ ngân hàng thuộc thế giới cũ trong một thế giới công nghệ cao.

- Bonsoir.

Ông già nói.

- Xin chào, xin vui lòng đi theo tôi, S'il vous plait.

Không chờ trả lời, ông ta đã quay gót rồi sải bước nhanh theo một hành lang hẹp bằng kim loại.

Langdon cùng, Sophie đi xuôi một loạt hàng lang, qua mấy căn phòng rộng đầy máy tính màn hình lớn đang nhấp nháy.

- Voici.

Vị chủ nhân nói khi tới một cánh cửa thép, và mở cửa ra cho họ.

- Các vị đã đến nơi.

Langdon và Sophie bước vào một thế giới khác. Căn phòng nhỏ trước mặt họ trông giống như một phòng khách xa hoa trong một khách sạn đẹp. Kim loại và đinh tán biến mất, thay thế bằng những tấm thảm phương Đông, đồ nội thất bằng gỗ sồi màu đen tuyền và ghế đệm. Trên chiếc bàn rộng ở giữa phòng, hai chiếc cốc pha lê xếp bên một chai rượu Perrier mở sẵn, còn sủi bọt. Một bình cà phê đang bốc hơi nghi ngút cạnh đó xác như đông hồ vậy, Langdon nghĩ thầm. Về điểm này thì phải chịu người Thụy Sĩ.

Ông già mỉm cười tinh tế:

- Tôi có cảm giác đây là lần đầu các vị đến ngân hàng chúng tôi?

Sophie do dự rồi gật đầu.

- Dễ hiểu thôi. Chìa khóa thường được truyền lại như tài sản thừa kế, và những vị khách lần đầu tiên đến đây tất yếu là bỡ ngỡ về thủ tục.

Ông chỉ về phía chiếc bàn để đồ uống.

- Căn phòng này là của quý khách chừng nào quý khách cần dùng.

- Ngài nói chìa khóa đôi khi là vật thừa kế?

Sophie hỏi lại.

- Thực vậy. Chiếc chìa khóa của quý khách giống như một tài khoản đánh số của Thuỵ Sĩ, thường khi được truyền lại qua nhiều thế hệ. Trên các tài khoản bằng vàng của chúng tôi đều có hợp đồng ký thác an toàn trong thời hạn ít nhất là năm mươi năm. Phí trả trước. Cho nên chúng tôi từng chứng kiến nhiều sự chuyển giao trong nội bộ gia đình.

Langdon đăm đăm nhìn:

- Ngài vừa nói năm mươi năm.

- Đấy là thời hạn tối thiểu.

Vị chủ nhân đáp.

- Tất nhiên quý khách ó thể mua những hợp đồng dài hạn hơn, nhưng nếu không gia hạn thêm mà trên tài khoản năm mươi năm lại không có hoạt động gì thì những thứ trong hộp ký thác hoàn toàn oàn sẽ tự động bị phá hủy. Có cần tôi nói sơ lược về quá trình truy nhập hộp kí thác của quý khách không?

Sophie gật đầu:

- Xin ngài cho biết!

Vị chủ nhân khoát tay về phía phòng khách sang trọng:

- Đây là phòng kiểm tra riêng của quý khách. Một khi tôi rời khỏi căn phòng này, quý khách có thể sử dụng toàn bộ thời gian cần thiết để kiểm tra cũng như thay đổi nội dung hộp ký thác an toàn của mình, nó sẽ đến.. qua đây.

Ông dẫn họ tới bức tường phía xa, nơi có một băng vận chuyển chạy vào phòng theo một đường cong thanh thoát, hơi giống băng chuyển hành lí ở các sân bay vậy.

- Quý khách hãy tra chìa vào ổ khóa chỗ kia..

Ông chỉ tay về phía bục điện tứ khá rộng đối diện với băng chuyền. Bục này cũng có một lỗ khóa hình tam giác trông quen thuộc.

- Một khi máy tính đã xác nhận dấu trên chìa khóa của quý vị, quý vị nhập số tài khoản của mình, và hộp ký thác an toàn của quý vị sẽ được rô-bốt chuyển đến từ hầm két bên dưới để quý khách kiểm tra. Khi quý khách kiểm tra hộp xong, hãy đặt nó trên băng chuyền, rồi lại tra chìa vào quá trình đó lại được đảo ngược. Vì mọi công đoạn đều tự động cả, sự riêng tư của khách hàng được đảm bảo, thậm chí ngay cả ban điều hành của ngân hàng cũng không hề hay biết. Nếu quý khách cần bất kì cái gì, xin hãy ấn nút gọi tại chiếc bàn kê ở giữa phòng.

Sophie đang định hỏi thêm một câu nửa thì chuông điện thoại reo. Ông già có vẻ bối rối và lúng túng:

- Cho tôi xin lỗi.

Ông đi vội đến phía bàn điện thoại nằm ngay sát bàn để cà phê và chai Perrier.

- Oui!

Ông trả lời.

Lông mày ông cau lại khi nghe người ở đầu dây đằng kia.

- Oui, oui.. d' accord.

Ông gác máy, rồi cười gượng gạo:

- Rất tiếc tôi phải để quý khách ở lại đây. Xin quý khách cứ tự nhiên như ở nhà.

Ông nhanh chóng đi về phía cửa.

- Xin lỗi ngài.

Sophie gọi to.

- Ngài có thể làm rõ một vài điều trước khi đi được không? Ngài vừa nhắc chúng tôi nhập số vào khóa?

Ông dừng lại ở cửa, vẻ mặt tái nhợt.

- Tất nhiên rồi. Như ở hầu hết các ngân hàng ở Thụy Sĩ, những chiếc hộp ký thác an toàn của chúng tôi gắn với một con số chứ không phải là một cái tên. Khách hàng có một chìa khóa và một số tài khoản riêng chỉ họ biết thôi. Chiếc chìa khóa của quý khách mới chỉ là một nửa phần nhận dạng của quý khách mà thôi, nửa kia là số tài khoản của quý khách. Bằng không, nếu quý khách đánh mất chìa khóa, thì bất kì ai nhặt được cũng có thể sử dụng nó.

Sophie ngần ngại:

- Thế nếu người chuyển giao chìa khóa cho tôi không cho tôi số tài khoản thì sao?

Tim của người làm ngân hàng đập thình thịch. Thế thì hiển nhiên là các người chẳng có việc gì ở đây cả! Ông mỉm cười bình thản:

- Tôi sẽ yêu cầu một người giúp quý khách. Anh ta sẽ đến ngay bây giờ thôi.

Rời khỏi căn phòng, ông đóng cửa lại sau lưng, bấm một chiếc khóa lớn nhốt hai người khách ở bên trong.

Đầu đằng kia thành phố, Collet đang đứng trong ga phía Bắc thì điện thoại của anh ta đổ chuông.

Người gọi là Fache.

- Interpol đã nhận được một tin báo.

Ông ta nói.

- Quên chuyến tàu ấy đi. Langdon và Sophie vừa vào chi nhánh Ngân hàng Ký thác Zurich tại Paris. Tôi muốn quân của anh đến đó ngay lập tức.

- Đã có manh mối gì về điều Saunière muốn truyền đạt cho Neveu và Robert Langdon chưa ạ?

Giọng Fache thật lạnh lùng:

- Nếu anh tóm cổ được họ, trung úy Collet, tôi sẽ đích thân hỏi họ.

Collet hiểu hàm ý của ông ta:

- Số hai mươi tư phố Haxo.

- Ngay bây giờ thưa đại úy.

Anh tắt máy rồi điện đàm với người của mình.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 43

André Vernet, chủ tịch của chi nhánh Ngân hàng Ký thác Zurich đặt tại Paris - sống trong một căn hộ xa hoa phía trên ngân hàng. Mặc dù có đầy đủ tiện nghi sang trọng, ông vẫn mơ được sớ hữu một căn hộ bên sông trên đảo Saint-Louis, nơi ông có thể chen vai thích cánh với những người sành điệu đích thực chứ chẳng như ở đây chỉ toàn gặp bọn trọc phú.

Vernet tự nhủ, khi nào về hưu, mình sẽ chất đầy hầm rượu toàn vang Bordeaux quý hiếm, trang trí salon bằng một bức Fragonard và có lẽ một bức Boucher, và suốt ngày mình sẽ săn lùng đồ cổ và sách quý hiếm ở Quartier Latin.

Đêm nay, Vernet mới chỉ thức giấc được có sáu phút rưỡi. Mặc dù vậy, khi ông hối hả đi qua hành lang ngầm của ngân hàng, trông ông như vừa được người thợ may và húi tóc riêng điểm tô cho một mẽ ngoài bóng bẩy. Chỉnh tề trong bộ com-lê lụa, Vernet xịt một ít nước thơm vào miệng, thắt chặt ca vát lại rồi mới bước ra ngoài. Không hề lạ lẫm với việc bị đánh thức giữa đêm khuya để phục vụ những khách hàng quốc tế đến từ những vùng có múi giờ khác nhau, Vernet đã tạo cho mình thói quen ngủ theo cách những chiến binh Maasai - một bộ lạc châu Phi nổi tiếng với khả năng chỉ trong vòng vài ba giây đã có thể từ giấc ngủ say sưa nhất chuyển sang tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Sẵn sàng chiến đấu, Vernet nghĩ thầm, sợ rằng sự ví von ấy có thể ứng vào đêm nay một cách bạo liệt lạ thường. Sự hiện diện của một khách hàng có chiếc chìa khóa vàng bao giờ cũng đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn thường nhật, nhưng người khách hàng mang chiếc chìa khóa vàng này lại đang bị Cảnh sát tư pháp truy nã thì càng là vấn đề cực kì tế nhị.

Ngân hàng này đã có đủ những cuộc chiến chống lại việc thực thi luật pháp để bảo vệ quyền bí mật riêng tư của khách hàng mà không có bằng chứ ng rằng một số trong bọn họ là những tên tội phạm.

Năm phút thôi. Mình cần hai kẻ đó ra khỏi ngân hàng trước khi cảnh sát đến.

Nếu ông hành động nhanh chóng, thì có thể khéo léo tránh được thảm ha sắp xảy ra. Vernet có thể nói với cảnh sát rằng quả thật những tên đào tẩu ấy có vào ngân hàng như đã báo cáo nhưng vì chúng không phải là khách hàng của họ và không có số tài khoản nên đã bị khước từ. Giá như gã bảo vệ chết tiệt kia đừng gọi cho Interpol, thì đỡ biết mấy. Rõ ràng kín đáo không nằm trong vốn từ của người bảo vệ được trả lương mười lăm Euro/giờ này.

Dừng lại ở ngưỡng cửa, ông hít một hơi thật sâu và thả lỏng cơ bắp. Sau đó cố nhoẻn một nụ cưởi dịu dàng, ông mở khóa và đẩy cửa bước vào phòng như một làn gió ấm.

- Xin chào!

Ông nói, mắt đảo tìm những người khách hàng của mình.

- Tôi là André Vernet. Tôi có thể phục..

Phần còn lại của câu nói bị tắc ở đâu đó dưới yết hầu. Người phụ nữ trước mặt ông không phải là một người khách bất ngờ như ông nghĩ.

- Xin lỗi, có phải chúng ta đã quen nhau không?

Sophie hỏi. Cô không nhận ra ông chủ ngân hàng, nhưng ông thì trong khoảnh khắc nom như vừa thấy ma hiện hình.

- Không..

Ông chủ tịch ngân hàng lúng búng.

- Tôi không nghĩ vậy. Dịch vụ của chúng tôi là nặc danh.

Ông ta thở hắt ra và cố nặn ra một nụ cười bình tĩnh.

- Người trợ lí của tôi nói rằng quý cô có một chiếc chìa khóa vàng nhưng lại không có số tài khoản, đúng không? Tôi có thể mạn phép hỏi, làm sao quý cô lại có được chiếc chìa khóa ấy?

- Ông tôi đã đưa nó cho tôi!

Sophie trả lời và nhìn kĩ hơn Ông chủ tịch. Sự lúng túng của ông ta lúc này càng rõ rệt.

- Thực vậy sao? Cụ nhà đã đưa cho quý cô chiếc chìa khóa này mà lại quên không cho số tài khoản sao?

- Tôi không nghĩ là ông tôi còn đủ thời gian để làm việc ấy.

Sophie nói.

- Ông tôi vừa bị giết hại đêm nay!

Lời nói của Sophie khiến ông la loạng choạng lùi lại:

- Jacques Saunière chết rồi ư?

Ông hỏi lại, mắt đầy vẻ kinh hãi.

- Nhưng.. như thế nào?

Lúc này đến lượt Sophie lui lại:

- Ngài biết ông tôi?

Ông chủ ngân hàng André Vernet có vẻ cũng kinh ngạc, dựa vào thành bàn để đứng cho vững:

- Jacques và tôi là bạn thân. Chuyện xảy ra khi nào?

- Đầu buổi tối nay. Bên trong bảo tàng Louvre.

Vernet bước đến một chiếc ghế da và gieo mình xuống đó:

- Tôi cần hỏi cả hai người một câu vô cùng quan trọng.

Ông ngước nhìn Langdon rồi lại quay sang Sophie:

- Ai trong số hai người có dính líu tới cái chết của ông ấy?

- Không ai cả!

Sophie tuyên bố.

- Hoàn toàn không!

Mặt Vernet lầm lầm, ông dừng lại ngẫm nghĩ.

- Interpol cho truyền ảnh hai người khắp mọi nơi. Nhờ vậy mà tôi nhận ra cô. Các người đang bị truy nã vì tội sát nhân.

Sophie ngồi phịch xuống. Fache đã kịp cho phát thông báo của Interpol rồi sao? Dường như tay đại úy ấy có động cơ mạnh mẽ hơn Sophie dự kiến. Cô kể nhanh cho Vernet biết Langdon là ai và chuyện gì đã xảy ra trong bảo tàng Louvre tối nay.

Vernet có vẻ kinh ngạc:

- Lúc hấp hối, ông ấy đã để lại một tin nhắn yêu cầu cô tìm ông Langdon?

- Vâng. Và chiếc chìa khóa này nữa.

Sophie đặt chiếc chìa khóa vàng lên mặt bàn cà phê trước mặt Vernet, úp mặt có hình con dấu của Tu viện Sion xuống.

Vernet liếc nhìn chiếc chìa khóa, nhưng không làm cử chỉ nào để chạm vào nó:

- Ông ấy chỉ để lại cho cô chiếc chìa khóa này thôi ư? Không còn gì khác nữa? Một mẩu giấy chẳng hạn?

Sophie biết cô rất vội khi ở trong bảo tàng Louvre, nhưng cô dám chắc không hề nhìn thấy một cái gì khác ẩn giấu đằng sau tác phẩm Madonna of the Rocks.

- Không có gì khác đâu. Chỉ có mỗi chiếc chìa khóa này thôi.

Vernet thở dài ngao ngán:

- Tôi e rằng mỗi chiếc chìa khóa đều đi kèm với một tài khoản mười chữ số, có chức năng như một mật khẩu. Nếu như không có số tài khoản ấy, chiếc chìa khóa của cô cũng chẳng có giá trị gì.

Mười chữ số. Sophie miễn cưỡng tính toán các khả năng giải mã. Mười tỷ phương án cả thể. Ngay cả mang vào những chiếc máy tính có cài đặt chương trình tính toán hoàn hảo nhất của DCPJ thì cô cũng cần nhiều tuần mới mong giải được mật mã ấy.

- Xét hoàn cảnh đặc biệt, chắc chắn ngài có thể giúp đỡ chúng tôi.

- Ôi xin lỗi. Thực sự tôi không thể làm gì được. Các khách hàng đều tự lựa chọn lấy số tài khoản thông qua mạng máy tính rất an toàn, điều đó có nghĩa là chỉ có khách hàng và máy tính mới biết được số tài khoản mà thôi. Đây là cách duy nhất để chúng tôi có thể duy trì hình thức nặc danh và cả sự an toàn cho nhân viên trong ngân hàng.

Sophie hiểu. Các kho giữ đồ cũng làm điều tương tự.

NHÂN VIÊN TRONG NGÂN HÀNG KHÔNG ĐƯỢC CÓ CHÌA KHOÁ KÉT.

Rõ ràng, ngân hàng này không dám liều để cho một kẻ gian nào đó ăn trộm một chiếc chìa khóa rồi sau đó giữ nhân viên của họ làm con tin để có được số tài khoản.

Sophie ngồi xuống bên cạnh Langdon, nhìn xuống chiếc chìa khóa rồi lại ngước nhìn Vernet:

- Ngài có biết gì về cái mà ông tôi đang cất giữ trong ngân hàng này không?

- Hoàn toàn không. Đó chính là định nghĩa của một ngân hàng Geldschralk.

- Thưa ngài Vernet..

Sophie thúc hối.

- Đêm nay, thời gian của chúng tôi rất hạn hẹp. Tôi sẽ nói thắng toẹt không vòng vo.

Cô với tay cầm lấy chiếc chìa khóa vàng và lật mặt kia lên, quan sát ánh mắt của Vernet trong khi phô ra con dấu của Tu Viện Sion.

Dấu hiệu này trên chiếc chìa khóa có ý nghĩa gì đối với ngài không?

Vernet liếc nhìn con dấu có hình bông hoa loa kèn mà không hề có phản ứng gì:

- Không, nhưng nhiều khách hàng của chúng tôi cũng cho khắc nổi logo hãng của mình hoặc những chữ cái đầu tiên lên chìa khóa của mình.

Sophie thở dài, mắt vẫn quan sát ông chủ tịch rất kỹ:

- Con dấu này là biểu tượng của một hội kín được gọi là Tu viện Sion.

Vernet vẫn không có phản ứng gì:

- Tôi không hề hay biết về điều này. Ông cô là bạn tôi, nhưng chúng tôi chủ yếu bàn về chuyện làm ăn.

Ông chỉnh lại cái ca vát, trông ông lúc này có vẻ bồn chồn.

- Thưa ngài Vernet..

Sophie lại thúc hối, giọng cương quyết.

- Tối nay, ông tôi gọi điện cho tôi, nói rằng cả hai ông cháu đang ở trong tình thế nguy hiểm. Ông nói cần phải trao cho tôi vật gì đó. Vật đó chính là chiếc chìa khóa này. Giờ thì ông đã mất. Bất kì điều gì ngài có thể cho chúng tôi biết đều rất có ích.

Vernet toát mồ hôi:

- Chúng ta cần phải thoát ra khỏi tòa nhà này. Tôi sợ là cảnh sát sẽ đến trong chốc lát. Người bảo vệ của chúng tôi cảm thấy buộc phải gọi cho Interpol.

Sophie đã sợ là sẽ như vậy. Cô dấn một chiêu cuối:

- Ông tôi nói cần phải kể cho tôi biết sự thật về gia đình tôi. Điều này có ý nghĩa gì đối với ngài hay không?

- Cô ạ gia đình cô đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn ô tô khi cô còn nhỏ. Tôi rất tiếc. Tôi biết ông cô yêu cô lắm. Mấy lần ông thổ lộ với tôi là ông xiết bao đau khổ về chuyện hai ông cháu cắt đứt liên lạc với nhau.

Sophie không biết nên trả lời ra sao.

Langdon chợt hỏi:

- Liệu tài khoản ấy có liên quan gì đến Sangreal hay không?

Vernet nhìn Langdon ngỡ ngàng:

- Tôi không biết đó là cái gì.

Đúng lúc đó điện thoại di động của Vernet reo, ông giật nó ra khỏi thắt lưng.

- Oui?

Ông nghe một lúc, mặt lộ vẻ ngạc nhiên và càng lúc càng lo lắng:

- La police? Si rapidement.

Ông chửi thề, chỉ dẫn ngắn gọn vài lời bằng tiếng Pháp, và nói ông sẽ có mặt ở sảnh sau một phút nữa.

Cúp điện thoại, ông quay về phía Sophie.

- Cảnh sát phản ứng mau lẹ hơn thường lệ nhiều. Trong lúc chúng ta nói chuyện, họ đã sắp tới rồi.

Sophie không hề có ý định rời khỏi ngân hàng với đôi bàn tay trắng:

- Xin hãy nói với họ rằng chúng tôi đã đến và đã đi khỏi ngân hàng rồi. Nếu họ muốn lục soát nhà băng, hãy yêu cầu họ xuất trình lệnh lục soát điều đó sẽ làm họ tốn thời gian đấy!

- Nghe này!

Vernet nói:

- Jacques là bạn tôi và ngân hàng chúng tôi chẳng cần loại tin trên báo chí kiểu này, vì hai lí do đó tôi không có ý định để cho cuộc bắt giữ này diễn ra trên địa phận của tôi. Hãy cho tôi một phút và tôi sẽ lo liệu xem có thể làm gì để giúp các bạn rời khỏi đây mà không bị phát hiện. Ngoài ra, tôi không thề bị liên can.

Ông đứng dậy và vội vã bước ra phía cửa.

- Cứ ở đây. Tôi sẽ dàn xếp ổn thỏa rồi quay lại ngay thôi!

- Còn hộp ký thác an toàn kia thì sao?

Sophie nói.

- Chúng tôi không thể bỏ đi như thế này được.

- Tôi chẳng thể làm được gì.

Vernet nói vậy rồi vội vàng bước ra khỏi cứa.

- Tôi rất tiếc.

Sophie nhìn theo ông một lúc rồi tự hỏi liệu số tài khoản ấy có thể bị vùi giữa một trong vô số thư từ, bưu kiện ông cô đã gửi cho cô trong bao năm mà cô đã không hề mở ra?

Langdon đột ngột đứng dậy, và Sophie cảm thấy một ánh mãn nguyện bất ngờ long lanh trong mắt ông.

- Robert, anh đang mỉm cười?

- Ông cô đúng là một thiên tài!

- Anh nói gì vậy?

- Mười con số, phải không?

Sophie chẳng biết Langdon đang nói gì.

- Số tài khoản!

Ông nói, một nụ cười quen thuộc hơi lệch về một bên hiện trên gương mặt ông.

- Rốt cuộc tôi dám chắc ông ấy có để lại nó cho chúng ta.

- Ở chỗ nào?

Langdon chìa một bản sao in tấm ảnh hiện trường vụ án rồi rải nó lên chìếc bàn uống cà phê. Chỉ cần đọc dòng đầu tiên, Sophie biết Langdon đã đúng.

13-3-2-21-1-1-8-5

Ôi, quỷ hà khắc!

Ôi thánh yếu đuối!

P.S. Hãy tìm Robert Langdon
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 44


- Mười chữ số.

Sophie nói, quan năng mật mã học ran ran trong cô khi nhìn chăm chú vào bản in ấy.

13-3-2-21-1-1-8-5

Ông mình đã viết số tài khoản lên sàn bảo tàng Louvre!

Lần đầu tiên khi Sophie nhìn thấy dãy số Fibonacci ghi lộn xộn trên sàn gỗ, cô đã đoán chừng mục đích duy nhất của nó là gợi ý cho DCPJ gọi các nhân viên giải mã và khiến Sophie tham gia vào. Nhưng sau đó cô đã nhận ra rằng những con số đó cũng là đầu mối để giải mã những dòng chứ khác - một dãy số hỗn độn, một anagram bằng số. Giờ đây Sophie ngạc nhiên tột độ nhận ra rằng những con số đó còn mang một ý nghĩa quan trọng hơn nhiều. Cần như chắc chắn chúng chính là chìa khóa cuối cùng để mở hộp ký thác an toàn đầy bí ẩn của ông cô.

- Ông là bậc thầy về trò đặt câu mang nghĩa nước đôi.

Nói rồi Sophie quay về phía Langdon.

- Ông thích bất kì thứ gì nhiều tầng nghĩa. Mật mã trong mật mã.

Langdon đã tiến về phía chiếc bục điện tử gần băng chuyền. Sophie vớ lấy bản in từ máy tính và đi theo.

Bục điện tử có một bàn phím cỡ nhỏ giống như bàn phím của máy rút tiền tự động ATM. Màn hình hiển thị logo chữ thập của ngân hàng. Bên cạnh bàn phím là một lỗ hình tam giác.

Sophie lập tức tra chìa vào ổ khóa. Màn hình khởi động tức thì:

SỐ TÀI KHOẢN: con trỏ chuột nhấp nháy, báo đợi.

Mười chữ số. Sophie đọc số từ bản in cho Langdon đánh vào màn hình:

SỐ TÀI KHOẢN: 13-3-2-21-1-1-8-5

Khi ông đánh xong chứ số cuối cùng, màn hình khởi động lại. Một tin ngắn viết bằng nhiều thứ tiếng xuất hiện. Tiếng Anh ở trên cùng.

CHÚ Ý:

Trước khi đánh phím ENTER, xin kiểm tra xem số tài khoản đã chính xác chưa. Vì sự an toàn của quý khách.

Nếu máy tính không công nhận số tài khoản này, hệ thống sẽ tự động đóng.

- Fontion Terminer?

Sophie cau mày.

- Có vẻ như chúng ta chỉ có thể thử một lần thôi.

Những máy chi trả tự động ATM tiêu chuẩn cho phép người sử dụng thử ba lần số nhận dạng trước khi thu hồi thẻ ngân hàng của họ. Rõ ràng, đây không phải là máy chi trả tự động thông thường.

- Số này có vẻ đúng đấy.

Langdon xác nhận rồi cẩn thận kiểm tra những chữ số họ đã dánh so với bản in. Ông chỉ vào phím ENTER:

- Ấn đi!

Sophie đưa ngón trỏ về phía bàn phím, nhưng rồi lại ngần ngừ, một ý nghĩ kì lạ chợt đến với cô.

- Bấm đi.

Langdon giục.

- Vernet quay trở lại bây giờ!

- Không được!

Cô rụt tay lại.

- Đây không phải là số tài khoản chính xác đâu.

- Tất nhiên là đúng nó! Mười chứ số đấy thôi. Làm sao có thể khác được?

- Con số này quá ngẫu nhiên!

Quá ngẫu nhiên? Langdon tuyệt dối không đồng ý. Mọi ngân hàng đều khuyên khách hàng lựa chọn số nhận dạng một cách ngẫu nhiên để không ai có thể đoán được chúng. Chắc chắn khách hàng ở đây cũng được khuyên nên chọn lựa số tài khoản một cách ngẫu nhiên.

Sophie xóa sạch những gì họ vừa đánh vào và ngước nhìn Langdon, cái nhìn đầy tự tin:

- Nếu cái số tài khoản được yêu cầu là ngẫu nhiên này có thể sắp xếp lại thành dãy số Fibonacci thì thật quá ư là trùng hợp.

Langdon nhận ra rằng cô có lý. Vừa nãy Sophie đã sắp xếp tài khoản này thành dãy số Fibonaccỉ. Khả năng tốt, xấu là thế nào để khiến cô có thể làm điều đó?

Sophie lại ấn tay vào bàn phím, nhập một con số khác như thể từ trí nhớ:

- Hơn nữa, ông tôi vốn thích các biểu tượng và mật mã, do đó có lẽ ông đã lựa chọn một số tài khoản mang một ý nghĩa đối với ông, một con số có thể nhớ dễ dàng.

Cô đã đánh xong số nhập, và mỉm cười ranh mãnh:

- Một cái gì có vẻ ngẫu nhiên.. nhưng lại không ngẫu nhiên!

Langdon nhìn vào màn hình.

SỐ TÀI KHOẢN: 123581321

Phải mất một lúc Langdon mới nhận ra nhưng khi định vị được thì ông biết là cô đúng.

Cấp số Fibonacci 123581321

Khi cấp số Fibonacci quyện lại thành một số duy nhất gồm mười chữ số, thì hầu như không thể nhận ra được. Dễ nhớ, và có vẻ như là ngẫu nhiên. Một mật mã tài tình gồm mười chữ số mà Saunìere không thể quên được. Hơn nữa, nó gỉải thích một cách hoàn hảo lí do tại sao những con số lộn xộn trên sàn của bảo tàng Louvre lại có thể sắp xếp lại thành cấp số trứ danh ấy.

Sophie với tay và ấn vào phím ENTER trên bàn phím. Chẳng có gì xẩy ra.

Chí ít chẳng có gì họ có thể thấy được.

Cùng lúc đó, ở bên dưới họ, trong hầm ngầm sâu thăm thẳm của ngân hàng, một chiếc càng máy bỗng nhiên khởi động.

Trượt trên hệ thống vận chuyển có trục kép gắn với trần hầm, chiếc càng lao đi tìm ta độ chính xác. Trên sàn ximăng phía dưới, hàng trăm hòm plastic giống hệt nhau nằm thành hàng trên một tấm lưới sắt khổng lồ.. tựa những dãy quan tài nằm trong một khu hầm mộ dưới lòng đất.

Dừng lại trong tiếng ro ro đúng bên trên chỗ cần tìm trên sàn hầm, chiếc càng hạ xuống, một con mắt điện tử xác nhận mã vạch trên chiếc hòm. Rồi, với sự chính xác của máy tính, chiếc càng quắp lấy quai xách và nhấc bổng chiếc hòm lên theo chiều thẳng đứng. Bộ bánh răng mới vào khấc, và chiếc càng chuyển chiếc hòm sang đầu kia hầm, dừng lại trên một băng chuyền đang đứng im.

Lúc này, cánh tay càng nhẹ nhàng đặt chiếc hòm xuống và rút về. Chiếc càng vừa rút khỏi, băng chuyền liền khởi động..

Ở tầng trên, Sophie và Langdon thở phào nhẹ nhõm khi trông thấy chiếc băng chuyền khởi động. Đứng bên băng chuyền, họ cảm thấy mình giống như những lữ khách mệt mỏi ở chỗ lấy đồ đang chờ một hành lý bí ẩn mà họ hoàn toàn không biết có gì ở bên trong.

Băng chuyền trôi vào phòng từ phía bên tay phải họ qua một khe hẹp bên dưới một cánh cửa đẩy ra kéo vào được. Cánh cửa kim loại kéo lên rồi một chiếc hòm plastic lớn xuất hiện, từ dưới sâu nhô lên trên mặt phắng nghiêng của băng chuyền. Chiếc hòm màu đen, khuôn plastic dày, lớn hơn nhiều so với tưởng tượng của Sophie. Trông nó như một chiếc hòm chở thú vật kiểng trên máy bay chỉ khác cái là không có lỗ thông khí.

Chiếc hòm dừng ngay trước mặt họ.

Langdon và Sophie đứng đó, im lặng và nhìn chằm chằm vào chiếc hòm bí ẩn ấy.

Giống như mọi thứ khác trong ngân hàng này, chiếc hòm này cũng mang đậm tính công nghiệp - móc cài bằng kim loại, một mã vạch dán trên nắp và một quai xách rất dày. Sophie nghĩ nó giống như một hòm đồ nghề khống lồ.

Không để tốn thời gian, Sophie tháo hai chiếc móc cài trước mặt cô. Rồi cô đưa mắt ra hiệu cho Langdon. Họ cùng nhấc nắp hòm, lật ra phía sau. Bước lên phía trước, họ ngó vào trong.

Thoạt nhìn, Sophie tưởng hòm rỗng không. Rồi, cô nhìn thấy cái gì đó. Dưới đáy hòm. Độc một thứ.

Đó là một chiếc hộp gỗ đánh bóng, to bằng hộp đựng giầy với những bản lề hoa mĩ. Loại gỗ này có màu tím sẫm óng ánh dưới đường vân thô. Gỗ hồng mộc. Sophie nhận ra. Loại gỗ ông cô ưa thích. Nắp đậy có khảm hình một bông hoa hồng. Cô và Langdon bỗng nhiên nhìn nhau bối rối. Sophie cúi xuống cầm chiếc hộp, nhấc ra khỏi hòm.

Lạy Chúa, nặng thế!

Cô thận trọng bê chiếc hộp đến đặt lên chiếc bàn rộng.

Langdon đứng bên cạnh cô, cả hai người nhìn chằm chằm vào cái kho báu nhỏ bé mà rõ ràng là ông Saunière đã phái họ đến đây để thu hồi lại.

Langdon ngỡ ngàng nhìn hình khắc bằng tay khảm trên nắp hộp - một bông hoa hồng có năm cánh. Ông đã từng nhìn thấy loại hoa hồng này nhiều lần.

- Một bông hồng năm cánh..

Ông thì thầm.

- Là thứ mà Tu viện Sion dùng làm biểu tượng cho Chén Thánh.

Sophie quay lại nhìn Langdon. Langdon biết cô đang nghĩ gì, và ông cũng nghĩ giống như cô. Kích thước của chiếc hộp, trọng lượng hiển nhiên của vật chứa trong đó, và một biểu tượng của Tu viện Sion hàm chỉ Chén Thánh, tất cả dường như bao hàm một kết luận khó hiểu khôn dò nổi. Chén của Chúa Kirixitô ở trong chiếc hộp này. Chuyện này là bất khả, Langdon lại tự nhủ thầm.

- Chiếc hộp này có kích thước hoàn hảo..

Sophie thì thầm.

- Để đựng.. một chiếc ly.

Đây không thế là chiếc ly được.

Sophie kéo chiếc hộp về phía mình, chuẩn bị mở ra. Tuy nhiên, khi cô di chuyển chiếc hộp, một điều bất ngờ đã xảy ra.

Chiếc hộp phát ra một âm thanh ùng ục kì lạ. Langdon ậm ừ. Hình như có chất lỏng ở bên trong?

Sophie cũng có vẻ bối rối:

- Anh có nghe thấy không?


Langdon gật đầu, hoang mang:

- Chất lỏng!

Vươn tay ra, Sophie từ từ tháo móc cài và nhấc nắp lên.

Vật ở bên trong hộp không hề giống với bất kì thứ gì Langdon đã từng nhìn thấy trước đó. Tuy nhiên, với cả hai người, một điều đã sáng tỏ ngay tức khắc:

Rõ ràng đây không phải là Chén Thánh.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 45


-Cảnh sát đang chặn đường phố!

André Vernet vừa nói vừa bước vào phòng đợi.

- Đưa cô cậu ra khỏi nơi này cũng khó khăn đây.

Khi đóng cửa lại sau lưng, Vernet nhìn thấy chiếc hòm plastic trên băng chuyền, ông dừng sững lại. Lạy Chúa! Họ vào được tài khoản của Saunière rồi sao?

Sophie và Langdon đang ngồi ờ bàn, lúi húi trên một vật gì tựa như một hộp gỗ lớn đựng đồ nữ trang. Ngay lập tức Sophie đậy nắp hộp lại rồi ngước lên nhìn:

- Rút cuộc thì chúng tôi cũng có được số tài khoản.

Cô nói.

Vernet không nói nên lời. Điều này đã làm thay đổi mọi thứ.

Ông kính cẩn rời mắt khỏi chiếc hộp và cố hình dung ra bước tiếp theo cần tiến hành. Mình phải đưa họ ra khỏi ngân hàng thôi.

Nhưng cảnh sát đã chặn các ngả đường, Vernet chỉ có thể nghĩ ra một cách duy nhất để làm điều ấy:

- Thưa cô Neveu, nếu như tôi đưa cô thoát ra khỏi ngân hàng một cách an toàn, thì cô sẽ mang thứ này theo hoặc là gửi trả nó về hầm két trước khi đi?

Sophie liếc mắt sang Langdon rồi nhìn Vernet:

- Chúng tôi cần phải mang nó theo.

Vernet gật đầu:

- Được. Vậy thì bất kể vật đó là gì, tôi cũng khuyên cô nên bọc nó vào áo ngoài khi chúng ta đi qua hành lang. Tôi không muốn bất kì ai nhìn thấy nó.

Khi Langdon cởi áo khoác ra, Vernet vội vàng đến chỗ băng chuyền, đóng chiếc hòm giờ đây đã rỗng không, rồi đánh vào máy tính vài lệnh đơn giản. Băng chuyền bắt đầu khởi động, đưa chiếc hòm plastic xuống hầm két. Rút chìa khóa ra khỏi ổ, Ông trao cho Sophie.

- Xin mời đi theo lối này. Khẩn trương lên!

Khi tới bãi đỗ xe ở phía sau, Vernet có thể thấy ánh đèn pha của cảnh sát rọi xuyên xuống cả gara dưới đất. Ông cau mày. Có thể họ chặn cả đoạn dốc vào ngân hàng. Liệu mình có thực sự giở chiêu này không? Ông toát mồ hôi.

Vernet ra hiệu về phía một trong những xe tải nhỏ bọc thép của ngân hàng. Transport sur cũng là một khâu khác trong dịch vụ của ngân hàng ký thác Zurich.

- Chui vào thùng chứa hàng đi!

Ông vừa nói vừa nâng cánh cửa sau to đùng và chỉ vào khoang bằng thép sáng loáng.

- Tôi sẽ quay lại ngay!

Trong khi Sophie và Langdon leo vào, Vernet hối hả băng qua bến chất hàng tới phòng người đốc công, lẻn vào, lấy chùm chìa khóa của chiếc xe tải và tìm thấy một chiếc áo đồng phục và mũ tài xế. Ông cởi áo vét - tông cùng cavát của mình ra, rồi mặc bộ đồng phục tài xế vào. Suy đi tính lại, ông đeo luôn cả bao súng lục dưới bộ đồng phục. Trên đường trở ra, ông vớ lấy khẩu súng lục của người tài xế trên giá, nạp đạn và ấn nó vào bao, rồi cài khuy áo. Quay trở lại chiếc xe tải, Vernet kéo xụp chiếc mũ xuống, ngó nhìn Sophie và Langdon đang đứng trong khoang chứa đồ trống không.

- Hai vị sẽ cần đèn sáng.

Verne nói và với tay vào trong bấm công tắc điện trên thành khoang để bật chiếc bóng đèn trơ trọi trên trần xe.

- Tốt hơn là hai vị hãy ngồi xuống. Đừng nói một lời nào trên đường ra cống đấy.

Sophie và Langdon ngồi bệt xuống sàn xe bằng kim loại.

Langdon ôm khư khư vật báu bọc trong chiếc áo khoác bằng vải tuýt.

Đóng chiếc cửa nặng trịch lại, Vernet nhốt hai người ở bên trong khoang chứa hàng. Rồi ngồi vào sau tay lái và rồ ga khởi động máy.

Khi chiếc xe tải bọc thép ì ạch leo lên đầu dốc, Vernet cảm thấy mồ hôi đầm đìa bên dưới chiếc mũ tài xế. Ông nhìn thấy phía trước có nhiều đèn của cảnh sát hơn cả tưởng tượng. Khi chiếc xe tải leo đến đỉnh dốc, cổng bên trong mở ra cho chiếc xe đi qua. Vernet lái xe tiến lên và đợi cho tới khi cổng khép lại đằng sau mình rồi mới đi tiếp và khởi động máy cảm biến tiếp theo. Chiếc cổng thứ hai mở ra, và lối thoát vẫy gọi.

Ngoại trừ xe của cảnh sát vẫn chặn ở trên đỉnh dốc. Vernet thấm mồ hôi trán rồi lái xe tiến về phía trước.

Một sĩ quan cảnh sát cao lêu đêu bước ra và vẫy tay ra hiệu cho ông dừng xe cách rào chắn vài mét. Bốn xe của tuần tra đỗ ở phía trước.

Vernet dừng xe. Kéo chiếc mũ tài xế xụp xuống thấp hơn nữa, ông cố cư xử cục cằn tới mức mà sự giáo dưỡng văn hóa ông đã được hưởng cho phép. Không nhúc nhích một ly khỏi đằng sau tay lái, ông mở cửa xe và nhìn xuống viên cảnh sát có vẻ mặt nghiêm nghị và vàng bủng.

- Qu' est-ce quise passe?

Vernet hỏi, giọng thô lỗ.

- Je suis Jerome Collet!

Viên cảnh sát trả lời.

- Lieutenant Police Judiciere.

Anh ta chỉ thùng chứa hàng:

- Qu'est-ce quily a la-dedans?

- Tôi biết đếch đâu được!

Vernet trả lời bằng thứ tiếng Pháp sống sượng.

- Tôi chỉ là một thằng tài xế quèn!

Collet có vẻ không hề lung lạc:

- Chúng tôi đang truy lùng hai tên tội phạm!

Vernet cười lớn:

- Thế thì các ông đến đúng chỗ rồi đấy. Một vài thằng cha mà tôi lái xe cho nhiều tiền lắm, nhất định chúng phải là tội phạm.

Tay cảnh sát giơ một tấm ảnh hộ chiếu của Robert Langdon:

- Người đàn ông này tối nay có đến ngân hàng các ông không?

Vernet nhún vai:

- Mù tịt. Tôi chỉ làm ở bến bốc dỡ. Họ đâu có để tôi đến gần khách hàng. Ông cần vào trong kia hỏi thường trực ấy.

- Ngân hàng yêu cầu xuất trình lệnh khám xét mới được vào.

Vernet làm ra vẻ ghê tởm:

- Cái bọn hành chính ấy mà. Chỉ cản trở người ta.

- Mở cửa xe của ông ra!

Collet chỉ về phía thùng chứa hàng.

Vernet chằm chằm nhìn viên cảnh sát, rồt dặn ra một tiếng cười rất chướng tai.

- Mớ cửa xe ra ư? Thế ông nghĩ là tôi có chìa khóa à? Thế ông nghĩ họ tin tưởng tôi đến vậy hay sao? Ông nên biết đến đồng lương còm mà họ trả cho tôi chứ.

Viên cảnh sát nghiêng nghé đầu ngờ vực ra mặt:

- Ông vừa nói không có chìa khóa cho chính chiếc xe của mình hay sao?

Vernet lắc đầu:

- Tôi không có chìa mở thùng chứa hàng. Chỉ có chìa khởi động xe thôi. Những xe tải này do đốc công khóa ngay tại bến bốc dỡ. Rồi xe cứ phải nằm tại bến trong khi một người mang chìa khóa thùng chứa hàng đến điểm nhận hàng. Một khi có điện thoại báo là chìa đã đến tay người nhận rồi, chúng tôi mới được phép xuất phát. Không được sớm hơn một giây. Tôi chẳng bao giờ biết mình đang chở cái của nợ gì đâu.

- Thế xe này bị khóa thùng hàng lúc nào?

- Chắc cũng phải hàng tiếng đồng hồ trước đây rồi. Đêm nay, tôi phải lái đến St. Thurial. Chìa khóa thùng hàng đã ở đó rồi.

Viên cảnh sát không phản ứng gì, đôi mắt dò xét như thể cố đọc ý nghĩ của Vernet.

Một giọt mồ hôi sắp chảy xuống sống mũi Vernet:

- Ông cho phép chứ?

Vernet nói, quệt mũi bằng ống tay áo và ra hiệu đề chiếc xe cảnh sát đang cản đường ông.

- Lịch trình của tôi chặt chẽ lắm.

- Tất cả tài xế đều đeo đồng hồ hiệu Rolex ư?

Viên cảnh sát chỉ cố tay của Vernet hỏi.

Vernet liếc xuống và nhìn thấy chiếc dây sáng lấp lánh của chiếc đồng hồ đắt tiền ló ra từ dưới ống tay áo.

- Merde. Cái cục cứt này ấy á? Tôi mua nó hai mươi Euro từ một gã bán rong người Đài Loan ở St. Germain des Prés đấy. Có thích đưa bốn mươi Euro tôi để lại cho.

Viên cảnh sát dừng việc tra xét và cuối cùng, đứng dẹp sang bên:

- Không, cảm ơn. Chúc thượng lộ bình an.

Vernet nín thở cho đến tận khi chiếc xe tải đi xuống con phố được chừng năm mươi mét. Giờ đây ông phải đối mặt với một vấn đề khác. Món hàng ông đang chở.

Mình sẽ đưa họ đi đâu?
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 46

Silas nằm úp sấp trên tấm vải bạt trong phòng riêng, phơi lưng ra không khí cho máu từ những vết quất vón cục lại. Đêm nay khổ hình lần thứ hai khiến hắn chóng mặt và yếu lả. Hắn còn phải tháo chiếc dây lưng hành xác, và hắn có thể cảm thấy máu đang rỉ xuống mé trong bắp đùi. Tuy nhiên hắn không có lí do chính đáng để tháo chiếc đai lưng ra.

Mình đã không hoàn thành nghĩa vụ với Nhà Thờ. Tồi tệ hơn, mình còn phụ lòng Giám mục nữa.

Đêm nay lẽ ra là đêm cứu rỗi của giám mục Aringarosa.

Năm tháng trước đây, giám mục trở về từ một cuộc gặp mặt tại Đài thiên văn Vatican, ông biết được điều gì đó khiến ông thay đổi sâu sắc. Buồn rũ trong nhiều tuần liền, giám mục Aringrosa cuối cùng đã quyết định chia sẻ tin tức cho Silas.

- Nhưng điều này là bất khả?

Silas gào ầm lên.

- Con không thể chấp nhận điều này được!

- Đó là sự thật đấy!

Aringarosa khẳng định.

Không thể tưởng tượng được, nhưng chuyện này là sự thật. Chỉ trong vòng sáu tháng nữa thôi.

Lời nói của vị giám mục khiến Silas hoảng sợ. Hắn cầu nguyện xin được giải thoát, thậm chí trong những ngày tăm tối ấy đức tin của hắn vào Chúa cũng như vào Đạo chưa bao giờ lung lay. Chỉ một tháng sau, mây mù bỗng tan một cách kì diệu và ánh sáng của khả năng thành công bừng lên chói lọi.

Giám mục gọi điều đó là sự Can thiệp Thần thánh.

Lần đầu tiên, Giám mục lại có vẻ tràn trề hi vọng:

- Silas này.

Ông thì thầm.

- Chúa đã ban tặng cho chúng ta cơ hội để bảo vệ Đạo. Cuộc chiến của chúng ta, cũng như mọi cuộc chiến khác, sẽ đòi hỏi hi sinh. Con sẽ là một người lính của Chúa chứ?

Silas quỳ xuống trước mặt giám mục Anngarosa - người đã ban cho hắn một cuộc sống mới - và nói:

- Con là con chiên của Chúa. Hãy dẫn dắt con như lời trái tim Cha mách bảo.

Khi Aringarosa mô tả cơ hội đã tự đến như thế nào, Silas biết rằng đó chỉ có thể là do bàn tay của Chúa. Ôi số phận nhiệm màu. Giám mục Aringarosa sắp xếp cho Silas tiếp xúc với người đề ra kế hoạch - một người tự xưng là Thầy Giáo. Mặc dù Thầy Giáo và Silas chưa từng mặt đối mặt, mỗi lần họ nói chuyện điện thoại với nhau, Silas đều kính nể cả sự uyên thâm trong đức tin của Thầy Giáo lẫn phạm vi quyền năng rộng lớn của ông. Dường như Thầy Giáo biết tất cả mọi điều, là một người có tai mắt ở khắp mọi nơi. Làm thế nào mà Thầy Giáo lại có thể thu thập được thông tin của mình thì Silas cũng không biết, nhưng giám mục Aringarose đã đặt một niềm tin lớn lao vào Thầy Giáo, và ông cũng yêu cầu Silas như thế:

- Hãy làm như Thầy Giáo sai khiến.

Vị giám mục nói với Silas.

- Và chúng ta sẽ chiến thắng!

Chiến thắng. Silas nhìn sàn nhà trống trơn và sợ rằng chiến thắng đã né tránh họ. Thầy Giáo đã mắc lừa. Viên đá đỉnh vòm là một cái ngõ cụt quanh co. Và với việc bị lừa, mọi hy vọng đã tiêu tan.

Silas ước mình có thể gọi điện và cảnh báo cho giám mục Aringarosa, nhưng đêm nay Thầy Giáo đã tắt hết các phương tiện liên lạc trực tiếp. Vì sự an toàn của chúng ta.

Cuối cùng, cố dẹp cơn run rẩy, Silas lồm cồm bò dậy, tìm thấy chiếc áo chùng của hắn nằm trên sàn nhà. Hắn rút chiếc điện thoại di động ra từ trong túi áo. Gục đầu tủi nhục, hắn bấm số.

- Thầy Giáo đấy ạ?

Hắn thì thầm.

- Đi đứt cả rồi.

Silas thành thực kể hết cho Thầy Giáo chuyện hắn đã bị lừa như thế nào.

- Anh đã đánh mất niềm tin quá nhanh đấy.

Thầy Giáo trả lời phía đầu dây bên kia.

- Ta vừa mới nhận được thông tin thôi. Hết sức bất ngờ và đáng mừng. Điều bí mật vẫn chưa mất. Jacques Saumère đã truyền đạt thông tin trước khi chết. Ta sẽ sớm gọi lại cho anh. Công việc của chúng ta đêm nay đã xong đâu!
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 47

Di chuyển trong khoang chứa đồ sáng lờ mờ của chiếc xe tải bọc thép chẳng khác nào bị chở đi trong một xà lim biệt giam vậy. Langdon cố chống lại nỗi lo sợ quá quen thuộc thường ám ảnh ông khi bị hãm trong khoảng kín hẹp. Vernet đã nói rằng ông ta sẽ đưa chúng ta ra ngoài thành phố tới một khoảng cách an toàn. Ở chỗ nào? Bao xa?

Chân Langdon đã tê cứng vì phải ngồi xếp bằng trên cái sàn kim loại, và ông bèn đổi tư thế, nhăn mặt khi cảm thấy máu đang dồn xuống phần dưới cơ thể. Ông vẫn ôm khư khư cái kho báu kì dị mà họ đã lấy ra được từ ngân hàng.

- Tôi nghĩ chúng ta đang đi trên đường cao tốc.

Sophie thì thào.

Langdon cũng cảm thấy thế. Sau quãng dừng lại căng thẳng ở đầu bờ dốc vào ngân hàng, chiếc xe tải tiếp tục đi, ngoằn ngoèo sang trái sang phải một vài phút, và giờ đây xe đang lao đi với vận tốc tối đa. Phía dưới họ, những chiếc lốp chống đạn chạy ro ro trên mặt đường phẳng lì. Cố tập trung chú ý vào chiếc hộp gỗ hồng mộc trong tay mình, Langdon đặt cái bọc quý giá xuống sàn, giở chiếc áo bọc ngoài, lôi chiếc hộp ra và kéo về phía mình. Sophie thay đổi tư thế để ngồi bên cạnh ông.

Langdon bỗng cảm thấy họ như hai đứa trẻ chụm đầu trên một món quà Giáng sinh.

Tương phản với màu thẫm của chiếc hộp gỗ hồng mộc, bông hoa hồng khảm trên đó được gia công bằng một loại gỗ có màu nhạt, có lẽ là màu tro, ánh lên dưới ngọn đèn điện mờ. Hoa Hồng. Bao đạo quân và tôn giáo cũng như hội kín đã được xây dựng trên biểu tượng này. Những thành viên Thập Tự Hồng. Những Hiệp sĩ Thập Tự Hồng.

- Tiếp tục đi!

Sophie nói.

- Mở ra!

Langdon thở thật sâu. Với tay đến nắp hộp, một lần nữa ông lại lén đưa mắt nhìn hình khảm khắc tinh vi ấy một cách ngưỡng mộ, rồi sau đó mới tháo chiếc móc gài, mở nắp, để lộ vật ở bên trong ấp nhiều hoang tưởng về cái họ có thể tìm thấy trong chiếc hộp này, nhưng rõ ràng ông đã lầm mọi bề.

Nằm gọn êm ấm bên trong chiếc hộp lót dày dặn một lớp lụa màu đỏ tắm, là một vật mà Langdon lúc đầu không hiểu là cái gì.

Gia công từ cẩm thạch trắng mài bóng, vật hình trụ đó có kích thước ang áng một cái hộp đựng bóng quần vợt. Nhưng hình trụ này còn phức tạp hơn nhiều so với một trụ đá đơn giản, dường như nó được ghép lại từ rất nhiều mảnh. Năm chiếc đĩa cẩm thạch to bằng chiếc bánh cam vòng được xếp chồng và gắn vào nhau trong một khung đồng tinh xảo. Trông nó giống như một loại kính vạn hoa nhiều ống ngắm. Mỗi đầu của trụ có gắn một nắp cũng bằng cẩm thạch khiến ta không thể nhìn thấu bên trong. Nghe thấy tiếng chất lỏng bên trong!

Langdon cho rằng hình trụ này rỗng.

Tuy cấu trúc của ống này thật khó hiểu nhưng chính những nét khắc xung quanh ống mới là điều thu hút sự chú ý đặc biệt của Langdon. Mỗi một chiếc trong số năm chiếc đĩa dều được khắc lên cùng một loạt chữ cái y hệt nhau - toàn bộ bảng chữ cái ống hình trụ có khắc chữ ấy khiến Langdon nhớ tới một thứ đồ chơi hồi nhỏ - một chiếc gậy được luồn qua những chiếc ống có viết các chữ cái, nó có thể quay quanh trục là chiếc gậy kia để đánh vần những từ khác nhau.

- Kì dị không?

Sophie thì thầm.

Langdon ngước nhìn:

- Tôi chịu không hiểu. Nó là cái quái quỉ gì?

Một ánh lấp lánh trong mắt Sophie:

- Ông tôi thường hay tỉ mẩn làm những thứ thế này, coi như một thú vui. Danh ha Leonardo da Vinci đã phát minh ra những thứ này.

Ngay cả trong ánh điện mờ tối, Sophie vẫn thấy Langdon rất ngạc nhiên.

- Da Vinci ư?

Ông lẩm bẩm rồi lời nhìn vào chiếc ống đó.

- Đúng thế. Người ta gọi đó là một hộp mật mã. Theo ông tôi, những bản phác ha đều xuất xứ từ một trong những nhật ký bí mật của Da Vinci.

- Hộp mật mã ấy để làm gì?

Bằng vào các sự kiện diễn ra tối nay, Sophie biết rằng câu trả lời có thể chứa đựng những hàm ý thú vị:

- Đó chính là két ngầm.

Cô trả lời.

- Dành cho việc cất giữ những thông tin tuyệt mật!

Langdon giương to mắt hơn.

Sophie giải thích rằng tạo ra những mô hình theo phát minh của Da Vinci là một trong những thú tiêu khiển mà ông cô yêu thích nhất. Là một nghệ nhân tài năng đã miệt mài hàng giờ trong xưởng gỗ và kim loại của mình, Jacques Saunière khoái bắt chước các nghệ nhân bậc thày như Fabergé, và một người khác, ít tính nghệ thuật hơn nhưng lại thực tế hơn nhiều, đó là Da Vinci.

Chỉ cần liếc sơ qua nhật kí của Da Vinci cũng thấy rõ tại sao danh họa này lại nổi tiếng ngang nhau về cái tật thiếu sự hoàn tất cũng như về tài năng kiệt xuất. Da Vinci đã phác ra những dự thảo cho hàng trăm phát minh mà ông chưa bao giờ hoàn tất. Một trong số những thú tiêu khiển ưa thích của Jacques Saunière là thực hiện những sáng kiến đột xuất còn mơ hồ của Da Vinci - những kiểu đồng hồ, những ống dẫn nước, những hộp mật mã và thậm chí cả mô hình một hiệp sĩ Pháp thời Trung cổ có đầy đủ khớp nối, mà giờ đây vẫn kiêu hãnh đứng trên bàn làm việc trong văn phòng của ông. Được Da Vinci thiết kế vào năm 1495 như là kết quả tự nhiên của thời kì đầu ông nghiên cứu khoa giải phẫu học và động lực học, cơ chế bên trong của rôbốt - hiệp sĩ này có những dây chằng và khớp nối chính xác được thiết kế để có thể đứng dậy từ tư thế ngồi, vẫy tay và cử động đầu thông qua một chiếc cổ rất linh hoạt cũng như đóng, mở được làm rất chính xác về mặt giải phẫu học.

Sophie vẫn luôn đinh ninh rằng chàng hiệp sĩ mặc áo giáp ấy là đồ vật đẹp nhất mà ông cô từng làm.. cho tới khi cô trông thấy hộp mật mã trong chiếc hộp gỗ hồng mộc này.

- Ông đã làm cho tôi một trong những thứ này khi tôi còn nhỏ xíu.

Sophie kể lại.

- Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một đồ vật nào to và công phu đến thế này.

Từ nãy, mắt Langdon vẫn không rời khỏi chiếc hộp:

- Tôi chưa bao giờ nghe thấy người ta nói đến một hộp mật mã.

Sophie chẳng lấy làm ngạc nhiên. Hầu hết những phát minh chưa thực hiện của Da Vinci chưa hề được nghiên cứu, thậm chí chưa có ai đặt tên cho chúng. Cái từ hộp mật mã này có thể là một sự sáng tạo của ông cô thôi, một tiêu đề thích hợp cho cái khí cụ đã sử dụng khoa học mật mã để bảo vệ những thông tin được viết trên những cuộn giấy hay những văn bản chép tay thời cổ.

Sophie biết Da Vinci là người viên phong trong lĩnh vực mật mã, mặc dù hiếm khi ông được công nhận là thế. Những giảng viên trong trường đại học của Sophie trong khi thuyết trình về các phương pháp lưu giữ thông tin qua mật mã trên máy tính đã hết lời ngợi ca những mật mã gia thời nay như Zimmerman và Schneier mà chẳng hề nhắc đến một điều là từ mấy thế kỉ trước, Leonardo đã phát minh ra một trong số nguyên lí sơ đẳng đầu tiên của việc sử dụng mật mã cùng với chìa khóa mở mã.

Tất nhiên, ông của Sophie là người đầu tiên nói cho cô biết về điều ấy khi chiếc xe tải bọc thép gầm rú trên đường cao tốc, Sophie giải thích cho Langdon rằng hộp mật mã là giải pháp của Da Vinci cho tình thế nan giải khi phải gửi những thông điệp bí mật đến những nơi xa. Trong một thời đại không có điện thoại cũng chẳng có thư điện tử, bất kì ai muốn truyền thông tin riêng của mình đến một người nào khác ở nơi xa cũng chỉ có một cách là viết lên mặt giấy rồi giao phó cho một người mang thư đi. Nếu chẳng may người mang thư ấy ngờ là trong thư có những thông tin quý giá, anh ta có thể bán đứng nó cho kẻ thù để kiếm được nhiều tiền hơn là đưa nó đến đúng địa chỉ.

Nhiều bộ óc lớn trong lịch sử đã phát minh ra các phương pháp sử dụng mật mã để giải quyết những thách thức trong việc bảo vệ dữ liệu: "Julius Caesar phát minh ra cách viết mật mã được gọi là hộp Caesar, Mary, Nữ hoàng Xcốtlen đã tạo ra mật mã thay thế và gửi đi những thông cáo bí mật từ nhà tù, và nhà khoa học xuất sắc người Arập Abu Yusuf Ismail al-Kindi đã bảo vệ được những bí mật của mình bằng một mật mã thay thế tài tình sử dụng nhiều chữ cái khác nhau.

Tuy nhiên Da Vinci lại né tránh toán và mật mã học, để tìm một giải pháp cơ học. Hộp mật mã. Một thứ "công ten nơ" xách tay có thể đảm bảo an toàn cho những lá thư, những tấm bản đồ biểu đồ, hay bất kì thứ gì khác. Một khi thông tin được khóa bên trong hộp mật mã thì chỉ những ai biết chính xác mật khẩu mới có thể truy nhập được.

- Chúng ta cần phải có một mật khẩu.

Sophie nói, chỉ tay vào những đĩa có khắc chữ cái.

- Hộp mật mã vận hành rất giống loại khóa chữ dùng cho xe đạp. Nếu ta xoay các vòng số vào đúng vị trí, khóa sẽ tuột ra. Hộp mật mã này có năm đĩa khắc chữ cái. Khi ta xoay chúng vào đúng trình tự, các lẫy khóa bên trong sẽ thẳng hàng, và toàn bộ hình trụ sẽ rời ra.

- Thế còn bên trong?

- Một khi hình trụ này rời ra, ta sẽ thấy một khoang rỗng ở giữa, khoang này có thể chứa một cuộn giấy, trên đó có ghi lại những thông tin ta muốn giữ bí mật.

Langdon có vẻ không tin:

- Cô nói ông cô đã từng làm cho cô những thứ như thế này khi cô còn nhỏ?

- Vâng, một vài thứ nhỏ hơn thế này. Hai lần vào dịp sinh nhật tôi, ông đã cho tôi một hộp mật mã và một câu đố. Lời giải cho câu đố đó chính là chìa khóa để mở hộp mật mã, và do đoán ra lời giải, tôi đã mở được hộp và tìm thấy thiếp chúc mừng sinh nhật của mình.

- Mất quá nhiều công để được một tấm thiếp.

- Không, tấm thiếp bao giờ cũng có một câu đố khác hoặc một đầu mối khác. Ông tôi bao giở cũng thích những cuộc săn lùng kho báu công phu diễn ra xung quanh căn nhà của chúng tôi một loạt các đầu mối dần dần đưa tôi đến với một món quà thực sự. Mỗi một cuộc săn lùng kho báu lại là một trắc nghiệm về tính cách và trình độ của tôi, để chắc chắn răng tôi xứng đáng được những phần thưởng đó. Và những trắc nghiệm ấy chưa bao giờ đơn giản cả.

Langdon lại đưa mắt nhìn cái hộp một lần nữa, trông ông vẫn còn đầy vẻ hoài nghi:

- Nhưng tại sao không cậy cho nó rời ra hoặc đập tan nó ra? Chất kim loại này nom có vẻ mảnh và cẩm thạch là một loại đá mềm mà.

Sophie mỉm cười:

- Bởi vì Da Vinci rất tinh ranh nên đã phòng ngừa điều đó. Ông đã thiết kế hộp mật mã sao cho nếu có ai cố cưỡng mở nó bằng mọi cách, thông tin bên trong hình trụ này sẽ tự hủy. Anh xem đây.

Sophie với tay vào trong hộp và thận trọng nhấc chiếc ống hình trụ lên.

- Bất kì thông tin gì cần đưa vào đây thoạt tiên phải được viết trên một cuộn giấy papyrus (giấy làm từ cây sậy) rồi sau đó mới được nhét vào trong ống.

- Không phải giấy bằng da cừu à?

Sophie lắc đầu:

- Papyrus. Tôi biết giấy làm bằng da cừu bền hơn và phổ biến hơn trong thời kì đó. Nhưng bắt buộc phải dùng giấy papyrus. Càng mỏng càng tốt.

- Tôi hiểu rồi!

- Trước khi giấy papyrus được nhét vào trong phần rỗng của hình trụ, nó được cuộn quanh một lọ thủy tinh dễ vỡ.

Cô khẽ chạm vào hộp mật mã và chất lỏng trong đó kêu ùng ục.

- Lọ đựng chất lỏng!

- Chất lỏng gì?

Sophie mỉm cười:

- Dấm!

Langdon do dự một lúc rồi gật đầu:

- Tài thật đấy!

Đám và giấy papyrus. Sophie nghĩ bụng. Nếu một người nào đó cố mở cho kì được hộp mật mã, lọ thủy tinh kia sẽ vỡ và dấm sẽ nhanh chóng hòa tan giấy papyrus. Đến lúc đó, kẻ nào lôi được cuộn giấy ghi lời nhắn bí mật, thì nó chỉ còn là một cục bột giấy nhão vô nghĩa mà thôi.

- Như anh thấy đấy..

Sophie nói với Langdon.

- Cách duy nhất có thể truy nhập thông tin ở bên trong là biết chính xác mật khẩu gồm năm chữ cái. Với năm số mà có cả thảy hai mươi sáu chữ cái, thế là có tới hai mươi sáu lũy thừa năm sự hoán đổi.

Cô ước lượng khả năng hoán vị.

- Áng chừng mười hai triệu khả năng!

- Nếu đúng vậy..

Langdon nói, trông có vẻ như trong đầu ông cũng có khoảng mười hai triệu câu hỏi đang quay cuồng.

- Vậy cô nghĩ thông tin gì có thể ở bên trong đây?

- Dù nó là gì thì hiển nhiên là ông tôi rất muốn giữ nó trong bí mật!

Cô dừng lại, đóng nắp hộp và nhìn bông hồng năm cánh trên đó. Có đìều gì đó đang làm cô băn khoăn.

- Vừa nãy anh nói hoa hồng là biểu tượng của Chén Thánh?

- Chính xác. Trong hệ biểu tượng của Tu viện Sion, hoa hồng và Chén Thánh là đồng nghĩa.

Sophie nhăn trán:

- Thật kì lạ, bởi ông tôi bao giờ cũng bảo hoa hồng có nghĩa là bí mật. Ở nhà tôi, ông thường treo lên cửa phòng làm việc một bóng hoa hồng mỗi khi ông có một cú điện thoại riêng mà ông không muốn để tôi quấy rầy. Ông cũng. khuyến khích tôi làm như thế". Cưng à, ông nói, thay vì khóa trái cửa mỗi khi cần riêng tư, chúng ta có thể treo một bông hoa hồng trước cửa - la fleur des sccret. Như vậy ta học cách tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau. Treo một bông hoa hồng là một phong tục của người La Mã Cổ đại.

- Sub rosa - Dưới một bông hoa hồng.

Langdon lẩm bẩm.

- Người La Mã đã treo một bông hoa hồng trước những cuộc họp để ám chỉ rằng cuộc họp này là bí mật. Những người tham dự buộc phải hiểu rằng bất kì điều gì được nói dưới bông hoa hồng - sub rosa đều phải được giữ bí mật.

Langdon giải thích sơ qua rằng hàm nghĩa bí mật của hoa hồng không phải là lí do duy nhất khiến Tu viện Sion lựa chọn nó làm biểu tượng cho Chén Thánh. Rosa rugosa, một trong những loại hoa hồng cổ xưa nhất có năm cánh với sự đối xứng ngũ giác, giống như ngôi sao Kim chỉ đường, đem lại cho Hoa Hồng những liên hệ hình tượng với tính nữ. Thêm vào đó, Hoa Hồng lại gắn bó khăng khít với khái niệm "đúng hướng" và chỉ đường. La bàn Hoa Hồng làm hoa tiêu cho các lữ khách cũng như những Đường Hoa Hồng, những đường kinh tuyến trên các bản đồ vậy. Vì lí do đó, Hoa Hồng được coi là biểu tượng cho Chén Thánh ở nhiều cấp độ - bí mật, tính nữ, và dẫn dắt - đó là chiếc chén nữ tính và ngôi sao chỉ đường dẫn đến sự thật bí mật.

Khi giải thích xong, vẻ mặt Langdon bỗng như rúm lại.

- Robert? Anh vẫn ổn đấy chứ?

Mắt Langdon dán chặt vào chiếc hộp bằng gỗ hồng mộc.

- Dưới.. Hoa hồng..

Ông nghẹn lại, một vẻ hoang mang dễ sợ bao trùm khắp khuôn mặt.

- Không thể thế được!

- Cái gì vậy?

Langdon từ từ ngước lên:

- Ẩn sau dấu hiệu Hoa Hồng.

Ông thì thào.

- Hộp mật mã này.. tôi nghĩ tôi biết nó là gì rồi!
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 48

Robert Langdon hầu như không tin vào giả thuyết của chính mình, nhưng bằng vào người đã giao lại cho họ cái trụ đá cùng cách thức ông ấy chuyển giao nó cho họ, và giờ đây, bằng vào bông hồng khảm trên chiếc hộp, Langdon chỉ có thể rút ra duy nhất một kết luận.

Mình đang cầm viên đá đỉnh vòm của Ti viện Sion. Truyền thuyết là rất cụ thể.

Viên đá đỉnh vòm là một viên đá được mã hóa bằng dấu hiệu Hoa Hồng.

- Robert à?

Sophie quan sát ông.

- Có chuyện gì vậy?

Langdon cần một chút thời gian để tập hợp những suy nghĩ của mình.

- Ông cô có bao giờ nói với cô về một cái gì gọi là la clef de voyute không?

- Có nghĩa là chìa khóa vào hầm két?

Sophie dịch câu hỏi của Langdon.

- Không, đó là dịch theo nghĩa đen. Clef de voyute là một thuật ngữ kiến trúc thông dụng. Voyte ở đây không chỉ hầm cất giữ đồ quý giá ở ngân hàng, mà chỉ cái vòm của một cửa tò vò. Thí dụ như trần vòm.

- Nhưng trần nhà xây hình vòm thì làm gì có chìa khóa?

- Trên thực tế, chúng lại có đấy. Mọi cửa tò vò bằng đá đều cần có một hòn đá hình chữ V ở phần chóp để gắn kết các mảnh vào với nhau và gánh toàn bộ sức nặng. Theo nghĩa kiến trúc, hòn đá này chính là chìa khóa của vòm. Trong tiếng Anh chúng tôi gọi nó là keystone.

Langdon quan sát Sophie chờ một ánh mắl lóe lên chứng tỏ cô nhận ra một đlều gì.

Sophie nhún vai, liếc xuống hộp mật mã:

- Nhưng hiển nhiên đây không phải là viên đá đỉnh vòm.

Langdon không biết nên bắt đầu từ đâu. Đá đỉnh vòm, với tư cách là một chi tiết kĩ thuật nề để xây dựng cửa tò vò bằng đá, xưa vốn là một trong số những bí quyết được giữ kín nhất của hội Tam Điểm. Cấp Vòm Hoàng gia. Kiến trúc. Đá đỉnh vòm. Tất cả những thứ này đễu liên quan với nhau. Bí quyết về cách dùng một hòn đá đỉnh vòm chêm vào để xây cửa vòm, là một phần của sự thông thái đã khiến cho những thành viên của hội Tam Điểm trở nên những nghệ nhân giàu có đến thế, và đó là một bí quyết mà họ giữ gìn rất cẩn mật. Xưa nay, đá đỉnh vòm vẫn có truyền thống bí mật.

Tuy nhiên, cái trụ bằng đá trong chiếc hộp gỗ hồng này hiển nhiên là một cái gì khác hẳn.

Viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion - nếu quả thực đó là cái mà họ đang nắm giữ - hoàn toàn không phải là cái mà Langdon đã hình dung.

- Viên đá đỉnh vòm của Tu viện không thuộc về chuyên môn của tôi.

Langdon thừa nhận.

- Mối quan tâm của tôi đối với Chén Thánh chủ yếu là về mặt kí tượng học, cho nên tôi có khuynh hướng không đếm xỉa đến việc có quá nhiều truyền thuyết về việc làm thế nào để thực sự tìm ra Chén Thánh.

Sophie nhướn mày:

- Tìm ra Chén Thánh?

Langdon gật đầu một cách không thoải mái, rồi cẩn trọng nói tiếp:

- Sophie này, theo các truyền thuyết kể về Tu viện Sion, viên đá đỉnh vòm là một tấm bản đồ được mã hóa.. một tấm bản đồ tiết lộ nơi cất giấu Chén Thánh.

Mặt Sophie thất thần:

- Và anh nghĩ đây chính là viên đá đỉnh vòm ấy sao?

Langdon cũng chẳng biết phải nói gì nữa. Ngay cả với ông, điều đó nghe cũng khó tin, vậy mà viên đá đỉnh vòm lại là kết luận lôgic duy nhất mà ông có thể rút ra. Một hòn đá mã hóa được giấu bên dưới dấu hiệu Hoa Hồng.

Ý tưởng cho rằng hộp mật mã là sáng kiến của danh ha Leonardo Da Vinci - Cựu Đại Sư của Tu viện Sion - là một dấu hiệu dầy cám dỗ khác nói lên rằng đây quả thật là viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion. Một thiết kế của cựu Đai sư được thực hiện bởi một thành viên khác của Tu viện Sion. Mối quan hệ này hiển nhiên đến mức khó có thể gạt bỏ.

Trong suốt thập kỉ cuối cùng của thế kỉ này, các sử gia vẫn đang cố tìm kiếm viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion tại rất nhiều nhà thờ ở Pháp. Những người tìm kiếm Chén Thánh, vốn quen thuộc với lối nói nước đôi lập lờ trong lịch sử của Tu viện Sion, đã đi đến kết luận rằng la clef de voyte là một viên đá đỉnh vòm theo nghĩa đen - một bộ phận chêm trong kiến trúc - một viên đá được khắc chạm và mã hóa, được gắn vào cửa vòm trong một nhà thờ nào đó. Dưới kí hiệu Hoa Hồng. Trong kiến trúc, không hề thiếu hoa hồng. Cửa sổ hoa hồng. Phù điêu hoa hồng. Và tất nhiên, vô số những ngũ diệp hoa - những hình trang trí hoa năm cánh thường thấy rất nhiều trên chóp các cửa tò vò, ngay trên viên đá đỉnh vòm. Chỗ cất giấu xem ra đơn gián một cách ma quái. Bản đồ dẫn đến Chén Thánh được ghép vào tận phía trên cao cửa vòm của một nhà thờ nào đó, như cười nhạo những con chiên mù lòa đi ngay bên dưới nó.

- Hộp mật mã này không thể là viên đá đỉnh vòm được.

Sophie tranh cãi.

- Nó đâu có lâu đời đến thế. Tôi dám chắc rằng ông tôi đã làm ra nó. Nó không thể là một phần trong bất cứ truyền thuyết cổ nào về Chén Thánh.

- Trong thực tế..

Langdon đáp, cảm thấy một niềm phấn khích rạo rực trong người.

- Người ta tin rằng Tu viện Sion đã làm ra viên đá đỉnh vòm vào khoảng hai thập kỉ trở lại đây!

Mắt Sophie loé lên sự hoài nghi:

- Nhưng nếu hộp mật mã này lại tiết lộ nơi cất giữ Chén Thánh tại sao ông tôi lại giao nó lại cho tôi? Tôi chẳng biết làm thế nào để mở nó và làm gì với nó. Thậm chí tôi còn chẳng biết Chén Thánh là cái gì nữa!

Langdon ngạc nhiên nhận ra rằng Sophie nói đúng. Ông chưa có dịp giải thích cho cô về bản chất thực sự của Chén Thánh. Chuyện ấy để sau hẵng hay. Lúc này, họ phải tập trung vào viên đá đỉnh vòm đã.

Nếu đây đúng là cái..

Trên nền tiếng bánh xe chống đạn lăn ro ro bên dưới họ, Langdon giải thích nhanh cho Sophie mọi thứ mà ông đã nghe được về viên đá đỉnh vòm. Người ta cho rằng, trong suốt nhiều thế kỉ, bí mật lớn nhất của Tu viện Sion - nơi giấu Chén Thánh chưa bao giờ được viết ra trên giấy trắng mực đen. Vì sự an toàn, nó chỉ được truyền miệng cho mỗi pháp quan mới thụ chức của hội kín này trong một nghi lễ bí mật. Tuy nhiên vào một thời điểm nào đó trong thế kỉ qua, đã nổi lên những lời xì xào rằng chính sách của Tu viện Sion đã thay đổi. Có lẽ điều này là do giờ đây người ta có thể nghe trộm thông qua các thiết bị điện tử hiện đại. Nhưng Tu viện Sion đã thề sẽ không bao giờ nói ra nơi cất giấu Chén Thánh linh thiêng.

- Nhưng vậy thì họ truyền lại bí mật về Chén Thánh như thế nào?

Sophie hỏi.

- Đó chính là lúc viên đá đỉnh vòm nhập cuộc.

Langdon giải thích.

- Khi một trong bốn thành viên lãnh đạo cao nhất qua đời, ba người còn lại sẽ lựa chọn tử các cấp dưới một ứng cử viên để đưa lên chức pháp quan. Trước khi nói cho pháp quan mới biết nơi cất giữ Chén Thánh, họ kiểm tra ứng cử viên, để qua đó ông này có thể chứng tỏ mình có xứng đáng hay không.

Sophie có vẻ vẫn chưa thỏa mãn với điều này, và Langdon chợt nhớ là cô đã kể chuyện dạo xưa ông Saunière thường bày đặt để cô săn lùng kho báu như thế nào - preuves de merite. Phải thừa nhận là viên đá đỉnh vòm cũng là một khái niệm tương tự. Vậy thì những cuộc sát hạch như thế này cực kì phổ biến trong những hội kín. Hội kín được biết đến nhiều nhất là hội Tam Điểm. Trong hội này, các thành viên muốn thăng cấp phải chứng tỏ mình có khả năng giữ bí mật, phải biết hành lễ và qua những trắc nghiệm chứng tỏ giá trị của mình trong vòng nhiều năm. Nhiệm vụ khó dần lên cho đến khi đạt tới đỉnh điểm là được lên cấp ba mươi hai trong hội Tam Điểm.

- Vậy viên đá đỉnh vòm này là một preuve de mérite.

Sophie nói.

- Nếu pháp quan kế nhiệm trong Tu viện Sion có thể mở được nó, ông ta sẽ chứng tỏ mình xứng đáng được nắm thông tin mà nó tàng chứa.

Langdon gật đầu:

- Tôi quên mất là cô rất có kinh nghiệm trong loại trò chơi này.

- Không chỉ với ông tôi đâu. Trong mật mã học, cái đó được gọi là "ngôn ngữ tự cho phép". Có nghĩa là nếu anh đủ thông minh để đọc được mật mã đó, thì anh được phép biết người ta đang nói gì.

Langdon đắn đo một thoáng:

- Sophie này, cô có nhận thấy rằng nếu đây quả thực viên đá đỉnh vòm thì việc ông cô được nắm giữ nó hàm nghĩa rằng ông là người có quyền lực đặc biệt trong Tu viện Sion. Hẳn ông phải là một trong bốn thành viên cao nhất của tổ chức này.

Sophie thở dài:

- Ông tôi là một thành viên có nhiều quyền lực trong một hội kín. Tôi dám chắc điều ấy. Tôi chỉ có thể cho rằng đó là Tu viện Sion.

Langdon bắt cá hai tay:

- Cô đã biết ông có chân trong một hội kín?

- Tôi đã thấy một vài điều không nên thấy mười năm trước đây. Tôi và ông tôi đã không nói chuyện với nhau kể từ đó.

Cô dừng lại.

- Ông tôi không chỉ là một thành viên hàng đầu mà còn.. Tôi tin rằng ông chính là người đứng đầu tổ chức này.

Langdon không sao tin được vào điều Sophie vừa nói:

- Đại Sư? Nhưng làm sao cô có thể biết được điều ấy!

- Tôi không muốn nhắc đến chuyện này.

Sophie ngảnh đi, vẻ mặt vừa kiên quyết vừa đau đớn ngang nhau.

Langdon ngồi lặng đi ngỡ ngàng. Jacques Saunière là Đại sư. Dù có gây dư vang đáng kinh ngạc nếu đúng là thế, Langdon vẫn có cái cảm giác kì lạ rằng điều đó gần như hoàn toàn có lí. Xét cho cùng, các Đại Sư trước đây của Tu viện Sion cũng là những nhân vật xuất chúng có tâm hồn thẩm mĩ. Bằng chứng về sự việc đó đã được phát lộ tại Thư viện Quốc gia ở Paris cách đây mấy năm trong những tài liệu nay được gọi là Les Dossiers Secrets.

Mỗi một sử gia nghiên cứu về Tu viện Sion và cả những người say mê Chén Thánh đều đã đọc Dossiers. Được vào phiếu số 4lm và 249, Les Dossiers Secrets đã được nhiều chuyên gia chứng thực và hồ sơ này xác nhận rành rành những gì các sử gia đã ngờ ngợ trong một thời gian dài: các Đại Sư của Tu viện Sion bao gồm Leonardo Da Vinci, Botticelli, Sir Isaac Newton, Victor Hugo, và gần đây là Jean Cocteau, nghệ sĩ trứ danh của Paris.

Thế thì tại sao lại không cử Jacques Saunière?

Sự nghi ngờ của Langdon càng tăng lên khi ông nhận ra rằng mình đã bị hoạch định để gặp Sophie đêm nay. Đại sư của Tu viện Sion đã sắp đặt một cuộc gặp gỡ với mình. Để làm gì? Để bàn chuyện phiếm về nghệ thuật ư? Điều đó đột nhiên có vẻ vô lí. Xét cho cùng, nếu linh cảm của Langdon là đúng, thì Đại Sư của Tu viện Sion vừa chuyển giao viên đá đỉnh vòm huyền thoại của tổ chức này cho cô cháu gái và lệnh cho cô tìm gặp Langdon.

Thật khó tin!

Trí tưởng tượng của Langdon không thể nghĩ ra được bất kì một hoàn cảnh nào khả dĩ giải thích được ứng xử của Saunière.

Ngay cả nếu Saunière sợ là bản thân mình sẽ chết, thì vẫn còn ba pháp quan kia nắm giữ được bí mật và do đó, đảm bảo được an toàn cho Tu viện Sion. Vậy thì tại sao Saunière lại liều lĩnh trao cho cô cháu gái viên đá đỉnh vòm, nhất là khi hai ông cháu đang bất hòa với nhau? Và tại sao lại kéo Langdon, một người hoàn toàn xa lạ, vào cuộc?

Một mảnh của trò chơi chắp hình này bị thiếu, Langdon nghĩ bụng.

Rõ ràng câu trả lời chưa đến ngay được. Tiếng động cơ chậm lại khiến cả hai người phải ngước lên. Bánh xe nghiến trên sỏi lạo xạo Tại sao chưa chi ông ta đã dùng lại? Langdon tự hỏi.

Vernet đã hứa sẽ đưa họ đến một nơi an toàn cách xa thành phố cơ mà. Chiếc xe tải giảm tốc độ đến gần như bò qua đoạn đường gồ ghề. Sophie nhìn Langdon lo lắng, đóng vội chiếc hộp lại và cài móc vào. Langdon lại đậy chiếc áo khoác của mình lên.

Khi chiếc xe tải dừng lại, máy vẫn để chạy không trong khi khóa ở cửa sau xe bắt đầu xoay. Khi cửa mở toang ra, Langdon ngạc nhiên thấy họ đang đậu xe ở một khu rừng cách xa đường quốc lộ. Vernet hiện ra trước mặt hai người, một vẻ căng thẳng trong mắt, một khẩu súng lục trong tay.

- Tôi xin lỗi về điều này..

Ông nói.

- Thực sự tôi không còn lựa chọn nào khác!
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 49

André Vernet trông có vẻ lóng ngóng với khẩu súng lục, nhưng mắt ông long lanh một quyết tâm mà Langdon cho rằng chớ có dại dột chống lại.

- E rằng tôi phải cương quyết thôi.

Vernet vừa nói vừa chĩa súng vào hai người ở đằng sau chiếc xe vẫn để nổ máy.

- Đặt chiếc hộp xuống!

Sophie ghì chặt chiếc hộp trước ngực:

- Ông nói ông với ông tôi là bạn kia mà.

- Tôi có bổn phận bảo vệ tài sản riêng của ông cô.

Vernet đáp lại.

- Và đó đích thị là điều tôi đang làm đấy. Giờ thì đặt chiếc hộp lên sàn xe.

- Ông tôi đã giao vật này lại cho tôi!

Sophie tuyên bố.

- Làm đi!

Vernet ra lệnh và giơ súng lên.

Sophie đặt chiếc hộp xuống cạnh chân mình.

Langdon quan sát chiếc nòng súng lúc này đã xoay về phía ông.

- Ông Langdon..

Vernet nói.

- Mang chiếc hộp lại cho tôi. Và nên biết rằng sở dĩ tôi yêu cầu ông làm điều đó là vì ông thì tôi sẽ không ngần ngại nổ súng đâu.

Langdon nhìn chằm chằm vào người chủ ngân hàng, vẻ không tin:

- Tại sao ông làm thế?

- Thế ông cho là tại sao?

Vernet sẵng giọng, thứ tiếng Anh trọ trẹ của ông trở nên cộc cằn.

- Để bảo vệ tài sản của khách hàng của tôi.

- Giờ đây chúng tôi là khách hàng của ông!

Sophie nói.

Mặt của Vernet trở nên lạnh tanh, một sự thay đổi kì dị:

- Cô Neveu, tôi không biết đêm nay làm cách nào mà hai người có được chiếc chìa khóa và số tài khoán, nhưng rõ ràng điều này có dính líu đến hành vi phạm pháp rồi. Nếu mà tôi biết mức độ phạm tội của hai người đến đâu, thì có lẽ tôi đã không giúp hai người thoát ra khỏi ngân hàng.

- Tôi đã nói với ông rồi.

Sophie nói.

- Chúng tôi không liên quan gì đến cái chết của ông tôi!

Vernet nhìn Langdon:

- Nhưng đài nói rằng ông bị truy nã không chỉ vì đã sát hại ông Jacques Saunière mà còn giết cả ba người đàn ông khác nữa.

- Cái gì?

Langdon như bị sét đánh. Ba vụ giết người nữa ư? Con số trùng hợp ấy còn làm ông choáng hơn là việc ông bị coi là nghi phạm chính. Điều này có vẻ quá vô lí, không thể là một sự trùng hợp được. Ba pháp quan? Langdon nhìn xuống chiếc hộp bằng gỗ hồng mộc. Nếu như ba pháp quan bị sát hại thì Saunière chẳng có sự lựa chọn nào. Ông buộc phải chuyển viên đá đỉnh vòm đỉnh vòm cho một người vào đó.

- Cảnh sát sẽ giải quyết chuyện này khi tôi giao ông cho họ.

Vernet nói.

- Tôi đã để ngân hàng chúng tôi dính líu quá sâu vào vụ này rồi.

Sophie đưa mắt nhìn Vernet:

- Rõ ràng ông không hề có ý định nộp chúng tôi cho cảnh sát. Nếu thế ông đã đưa chúng tôi quay trở lại ngân hàng. Nhưng thay vào đó ông đã dẫn chúng tôi đến đây rồi chĩa súng vào chúng tôi, đúng không nào?

- Ông cô thuê tôi vì một lí do duy nhất - giữ cho tài sản của ông vừa an toàn lại vừa bí mật. Bất kể chiếc hộp kia chứa thứ gì bên trong, tôi cũng không mảy may có ý định đề nó trở thành một tang chứng được liệt kê trong vụ điều tra của cảnh sát đâu. Nào Langdon, đưa chiếc hộp đó cho tôi mau.

Sophie lắc đầu:

- Đừng làm thế!

Tiếng nổ phát ra và một viên đạn găm vào thành xe trước mặt ông ta. Tiếng vang làm rung phần sau chiếc xe tải và vỏ viên đạn rơi xuống sàn của thùng đựng hàng.

Mẹ kiếp! Langdon sững người.

Vernet nói, giọng tự tin hơn:

- Ông Langdon, cầm cái hộp lên.

Langdon nhấc chiếc hộp lên.

- Giờ thì mang nó lại cho tôi.

Vernet nhăm nhăm súng, đứng trên mặt đất phía sau cái gỉảm sóc, đang thắng cánh chĩa súng vào trong thùng đựng hàng.

Cầm chiếc hộp trong tay, Langdon đi qua thùng xe ra phía cánh cửa đã mở..

Mình phải làm một cái gì đó! Langdon nghĩ bụng."Mình sắp giao cho ông ta viên đá đỉnh vòmcủa Tu viện Sion dấy! Khi Langdon đi về phía cánh cửa, vị ttí cao hơn so với mặt đất của ông trở nên rõ ràng hơn, và ông tự hỏi liệu có thể tận dụng lợi thế này bằng cách nào đó. Khẩu súng của Vernet mặc dù được giơ lên chỉ nhằm đến đầu gối Langdon. Có lẽ một cú đá nhằm thật trúng chăng? Nhưng không may, khi Langdon đến gần, thì Vernet dường như cũng cảm thấy nguy hiểm đang rình rập nên ông ta lùi lại phía sau vài bước cách chỗ cũ tầm hai mét.

Ngoài tầm với.

Vernet ra lệnh.

- Đặt chiếc hộp cạnh cửa xe!

Không còn lựa chọn nào khác, Langdon quỳ xuống đặt chiếc hộp gỗ hồng ở mép khoang chứa hàng, ngay trước cánh cửa mở.

- Giờ thì hãy đứng lên!

Langdon nhỏm dậy nhưng rồi dừng lại, liếc nhìn chiếc vỏ đạn lăn lóc trên sàn xe, cạnh bệ cửa.

- Đứng dậy và tránh xa cái hộp ra!

Langdon dừng lại một lúc lâu hơn, liếc nhìn bệ cửa bằng kim loại. Rồi đứng dậy. Trong khi làm như vậy, ông lén gạt chiếc vỏ đạn qua mép cửa xuống cái gờ hẹp là bệ dưới của cửa sau xe. Đứng thắng người lên, Langdon lùi về phía sau.

- Tiến tới vách sau rồi quay lưng lại!

Langdon vâng lệnh.

Vernet cảm thấy tim mình đập thình thịch. Ngắm súng bằng tay phải, ông với tay trái ra để lấy chiếc hộp gỗ. Ông phát hiện ra rằng chiếc hộp quá nặng. Phải dùng hai tay thôi.

Quay sang nhìn hai tù binh của mình, ông tính toán cơ nguy.

Cả hai đều cách ông khoảng năm mét, ở tận cuối khoang chứa hàng, quay lưng về phía ông. Vernet đã quyết định. Vội vàng, ông đặt khẩu súng lên thanh giảm sốc, nhấc chiếc hộp lên bằng cả hai tay, đặt nó xuống đất, rồi lập tức chộp lấy khẩu súng và chĩa vào khoang chứa hàng. Cả hai tù nhân đều không nhúc nhích.

Tuyệt. Giờ đây chỉ còn việc đóng và khóa cửa lại. Để tạm chiếc hộp trên mặt đất, ông nắm lấy cánh cửa kim loại rồi bắt đầu hì hục đóng lại. Khi cánh cửa quay qua mặt ông, Vernet với tay lên chiếc then đơn cần được đẩy vào đúng chỗ. Cánh cửa đóng đánh thình và Vernet vội vớ lấy chiếc then kéo sang trái. Chiếc then trượt vài phân rồi bất ngờ dừng két lại, không thẳng hàng với chốt. Có chuyện gì đây không biết? Vernet kéo lại một lần nữa nhưng then vẫn không sao đóng vào được. Các bộ phận bị vênh rồi. Cửa không tài nào đóng chặt vào được!

Hoảng lên, ông xô mạnh cánh cửa từ phía ngoài, nhưng nó vẫn không nhúch nhích. Một cái gì đó đang chèn cánh cửa lại.

Vernet xoay người lao cả bả vai vào cánh cửa, nhưng lần này cánh cửa bật ra, đập vào mặt Vernet và quật ông ngã sóng soài trên mặt đất, mũi bầm giập đau điếng. Khẩu súng văng đi khi Vernet đưa tay lên ôm mặt và cảm thấy máu âm ấm chảy xuống từ sống mũi.

Robert Langdon chạm đất ở đâu đó gần đấy. Vernet cố đứng dậy, nhưng ông chẳng nhìn thấy gì cả. Mắt ông nhòa đi và ông lại ngã vật ra. Sophie Neveu đang hét lớn điều gì đó. Một lúc sau, Vernet cảm thấy một đám bụi đất và khói thải tạt vào mặt.

Nghe thấy tiếng lốp xe lạo xạo trên sỏi, ông nhỏm dậy đúng lúc kịp nhìn thấy khoảng cách rộng giữa bánh trước và bánh sau không vào trúng ngoẹo của. Một tiếng ầm vang lên khi cái giảm sóc phía trước xe đâm sầm vào một cái cây. Động cơ gầm rú và cái cây ngả nghiêng. Cuối cùng, cái giảm sóc xé gẫy làm đôi chiếc xe bọc thép chòng chành lao đi, cái giảm sóc phía trước xe kéo lê theo. Khi chiếc xe tải tới đường lát nhựa, một chùm tia lửa loé sáng trong đêm tối, đẩy chiếc xe tải đi với tốc độ tối đa.

Vernet quay mắt lại nhìn mặt đất, chỗ mới đây chiếc xe còn đậu. Ngay cả dưới ánh trăng mờ, ông vẫn có thể thấy chẳng còn gì ở đó nữa.

Chiếc hộp gỗ đã biến mất.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 50

Chiếc Fiat không có gì nổi bật rời Castel Gandoflo ngoằn ngoèo đi xuống, qua đồi Alban Hill vào thung lũng phía dưới.

Ngồi ở ghế sau, giám mục Aringarosa mỉm cười, cảm thấy sức nặng của những tờ trái phiếu trong chiếc cặp số trên lòng mình và tự hỏi còn bao lâu nữa ông và Thầy Giáo mới có thể tiến hành cuộc trao đổi.

Hai mươi triệu Euro.

Món tiền này sẽ mang lại cho Aringarosa thứ quyền lực có giá trị hơn thế nhiều.

Trong khi chiếc xe lao nhanh trên đường về Roma, Aringarosa lại một lần nữa nhận thấy mình đang băn khoăn tự hỏi tại sao Thầy Giáo vẫn chưa liên lạc với ông. Rút máy điện thoại di động ra khỏi túi áo chùng thầy tu, ông kiểm tra tín hiệu sóng. Cực yếu.

- Điện thoại di động ở trên này bập bõm lắm.

Người lái xe nói, liếc nhìn ông qua kính chiếu hậu.

- Sau khoảng năm phút nữa, ra khỏi vùng núi và dịch vụ sẽ tốt hơn.

- Cảm ơn.

Aringarosa bỗng cảm thấy lo. Không phủ sóng dưới vùng núi sao? Có lẽ Thầy Giáo đang cố gọi cho ông lúc này.

Cũng có thể là chuyện gì đó kinh khủng đã xảy ra.

Rất nhanh, Aringarosa kiểm tra hộp thư thoại. Chẳng có gì hết. Rồi một lần nữa, ông nhận ra rằng Thầy Giáo ắt không bao giờ để lại một tin nhắn ghi âm, ông ta là một người cực kỳ cẩn trọng trong giao tiếp. Không ai hiểu rõ hơn Thầy Giáo nguy cơ của việc nói chẻ hoe trong cái thế giới hiện đại này. Máy nghe trộm điện tử đã có một vai trò chính yếu trong cách thức ông ta thu thập cả mớ thông tin bí mật dáng kinh ngạc đến thế.

Vì lý do ấy! Ông ta càng thận trọng thêm nữa!

Khốn nỗi, những thủ tục đề phòng của Thầy Giáo lại bao gồm cả việc từ chối không cho giám mục Aringarosa một số điện thoại liên lạc nào. Chỉ mình tôi chủ động liên hệ thôi, Thầy Giáo đã thông báo với giám mục như vậy. Cho nên, hãy giữ máy điện thoại gần ngài. Bây giờ, khi giám mục Aringarosa đã nhận ra rằng điện thoại của ông có thể không thông suốt, ông sợ Thầy Giáo có thể hiểu lầm nếu ông ta liên tục gọi mà không nhận được câu trả lời.

Ông ta sẽ nghĩ là có gì không ổn.

Hoặc là mình đã không thể lấy được hối phiếu. Giám mục toát mồ hôi.

Hoặc tồi tệ hơn.. rằng mình đã lấy được tiền và bỏ chạy!
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 51

Thậm chi với vận tốc khiêm tốn 60km/h, cái giảm xóc treo lủng lẳng phía trước của chiếc xe tải bọc thép vẫn quẹt cành cạch vào mặt đường ngoại ô vắng tanh, làm bắn những tia lửa lên mui xe.

Chúng ta phải ra khỏi con đường này, Langdon nghĩ bụng. Ông thậm chí không rõ họ đang đi về đâu nữa. Chiếc đèn pha duy nhất còn sáng bị va lệch tâm, giờ đây chiếu xiên xẹo vào cánh rừng ven đường cao tốc. Rõ ràng, tính từ bọc thép trong cụm từ "xe tải bọc thép" chỉ đúng với thùng chứa hàng chứ đâu có đúng với phần đằng trước.

Sophie ngồi ở ghế hành khách, thẫn thờ nhìn chiếc hộp gỗ.

- Cô vẫn ổn đấy chứ?

Langdon hỏi.

Sophie có vẻ run:

- Anh có tin ông ta không?

- Về chuyện có ba người nữa bị sát hại ư? Tôi hoàn toàn tin. Điều đó giải đáp cho một loạt vấn đề - tình trạng tuyệt vọng của ông cô khi muốn truyền lại viên đá đỉnh vòm cũng như chuyện tay cảnh sát Fache đang ráo riết săn lùng tôi.

- Không, tôi muốn nói về việc Vernet cố gắng bảo vệ ngân hàng của ông ta.

Langdon liếc nhìn:

- Đối lập với?

- Ông ta muốn chiếm lấy viên đá đỉnh vòm cho riêng mình.

Langdon trước đó thậm chí không hề tính đến chuyện đó.

- Làm sao ông ta có thể biết chiếc hộp chứa cái gì?

- Thì ngân hàng của ông ta cất giữ chiếc hộp này mà. Ông ta biết ông tôi. Có thể ông ta biết nhiều điều đấy. Có lẽ ông ta đã quyết định đoạt lấy Chén Thánh cho riêng mình.

Langdon lắc đầu. Vernet không thể là loại người này.

- Theo tôi, chỉ có hai lí do khiến nhiều người đeo đuổi việc tìm kiếm Chén Thánh. Một là họ rất ngây thơ và tin rằng họ đang kiếm tìm cái Chén của Chúa Jesus đã bao lâu mất tích.

- Còn lí do kia?

- Hoặc là họ biết sự thật và bị chính sự thật đó đe da. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều nhóm đã tìm cách hủy Chén Thánh.

Sự im lặng giữa hai người càng làm nổi bật tiếng chiếc giảm sóc quệt trên mặt đường. Họ đã đi được vài cây số, và trong khi quan sát những tia lửa bắn tóe trước đầu xe, Langdon tự hỏi liệu điều đó có nguy hiểm không. Đằng nào cũng vậy, nếu họ đi ngang một chiếc xe khác, điều này chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý. Langdon bèn quyết định.

- Để tôi xem có thể nắn lại chiếc giảm sóc được không.

Tạt vào vệ đường, ông đỗ xe lại.

Cuối cùng, yên tĩnh đã trở lại.

Khi Langdon bước về phía đầu xe, ông cảm thấy mình lanh lẹ một cách đáng ngạc nhiên. Việc phải đối diện với một nòng súng khác nữa đêm nay đã tiếp cho ông một hơi thở mới. Ông hít mạnh không khí trong lành ban đêm và cố gắng tập trung trí lực minh mẫn. Kèm theo tình thế nghiêm trọng của kẻ bị săn đuổi, Langdon bắt đầu cảm thấy gánh nặng của trách nhiệm, cái viễn cảnh là ông và Sophie có thể đang thực sự nắm giữ một loạt chỉ dẫn mã hóa đưa tới một trong những bí mật bền lâu nhất của mọi thời.

Cứ như thể nhiệm vụ này vẫn chưa đủ nặng nề, giờ đây Langdon nhận ra rằng mọi khả năng tìm cách hoàn trả viên đá đỉnh vòm cho Tu viện Sion vừa bị tiêu tan. Tin có thêm ba vụ sát hại mang những ngụ ý khốc liệt. Tu viện Sion đã bị kẻ địch cài người vào. Họ đã bị phản. Rõ ràng hội kín này đã bị theo dõi hoặc là có nội ứng trong hàng ngũ. Điều đó giải thích tại sao Saunière lại trao viên đá đỉnh vòm cho Sophie và Langdon vốn là người ngoài tổ chức, những người mà ông biết rằng họ không thỏa hiệp. Chúng ta không dễ gì trả lại viên đá đỉnh vòm cho hội này được. Thậm chí nếu Langdon biết cách tìm ra được một thành viên của Tu viện Sion thì cũng rất có thể người đứng ra nhận viên đá đỉnh vòm lại chính là kẻ thù. Lúc này, chí ít viên đá đỉnh vòm cũng ở trong tay Langdon và Sophie cho dù họ có muốn hay không.

Phía đầu chiếc xe tải trông còn tệ hơn cả trong tưởng tượng của Langdon. Chiếc đèn pha bên trái đã tắt ngúm, còn chiếc bên phải nom như một con ngươi long ra khỏi hốc mắt.

Langdon gắn thẳng chiếc đèn lại nhưng nó lại long ra. Điều đáng mừng duy nhất là chiếc giảm sóc đằng trước đã tả tơi, gần rụng. Langdon đá vào đó một cái thật mạnh và cảm thấy ông có thể bẻ nó rời ra hoàn toàn.

Trong khi ông liên tục đá vào thanh sắt cong queo, Langdon nhớ lại câu chuyện trước đó với Sophie.

- Ông tôi đã để lại một tin nhắn thông qua chiếc máy điện thoại di động.

Sophie tiết lộ.

Ông bảo rằng ông cần phải kể cho tôi nghe về bí mật của gia đình.

Khi ấy, điều đó chẳng có nghĩa gì, nhưng giờ đây khi biết Tu viện Sion cũng có liên quan, Langdon cảm thấy nổi lên một khả năng mới đáng kinh ngạc.

Chiếc giảm sóc đột nhiên gẫy đánh cách. Langdon ngừng lại để thở. Ít ra thì chiếc xe cũng không còn giống pháo hoa ngày mồng bốn tháng bảy nữa. Ông túm lấy chiếc giảm sóc và kéo nó quắng vào rừng cho khuất mắt. Ông tự hỏi sau đây họ sẽ đi đâu. Họ không biết làm thế nào để mở hộp mật mã hoặc tại sao Saunière lại giao cho họ viên đá đỉnh vòm. Khốn thay, sự sống còn của họ trong đêm nay dường như lại phụ thuộc vào việc tìm ra câu trả lời cho chính những câu hỏi trên.

Chúng ta cần có sự giúp đỡ, Langdon quyết định.

- Một sự giúp đỡ mang tính chuyên môn.

Trong thế giới của Chén Thánh và trong Tu viện Sion, sự giúp đỡ ấy chỉ có thể tìm thấy ở một người duy nhất. Tất nhiên, thách thức ở đây sẽ là làm sao thuyết phục được Sophie về ý tưởng ấy.

Bên trong chiếc xe bọc thép, trong khi chờ Langdon quay trở lại, Sophie cảm thấy sức nặng của chiếc hộp trên lòng mình và cô hậm hực. Tại sao ông lại giao cái này cho mình? Cô hoàn toàn không biết phải làm gì với nó.

Suy nghĩ đi, Sophie. Hãy sử dụng cái đầu của mày. Ông mày đang cố nói điều gì với mày đấy!

Mở chiếc hộp lớn ra, cô xem xét các đĩa quay của hộp mật mã. Một trắc nghiệm để chứng minh giá trị. Cô cảm thấy bàn tay của ông mình đang làm việc. Viên đá đỉnh vòm là một bản đồ mà chỉ những người xứng đáng mới lần theo được. Nghe đặc khẩu khí của ông cô.

Nâng hộp mật mã ra khỏi chiếc hộp lớn, Sophie đặt những ngón tay của mình lên trên những đĩa quay. Năm chữ cái. Cô quay lần lượt từng chữ cái một. Cơ cấu hoạt động trơn tru. Cô sắp những đĩa sao cho các chữ cái cô đã chọn thẳng hàng giữa hai mũi tên bằng đồng ở mỗi đầu hình trụ. Những đĩa quay lúc này chắp vần thành một từ năm chữ cái mà Sophie biết rằng nó quá hiển nhiên đến mức phi lí.

G-R-A-I-L.

Cô nhẹ nhàng cầm hai đầu hình trụ rồi kéo nó để từ từ gây ra một áp suất. Hộp mật mã vẫn không nhúc nhích gì cả. Cô nghe thấy dấm chảy òng ọc phía trong và ngửng kéo. Rồi cô lại thử một từ khác.

V-I-N-C-I

Vẫn chẳng thấy chuyển động gì.

V-O-U-T-E

Chẳng thấy gì. Hộp mật mã vẫn đóng chặt.

Chau mày, cô đặt nó trở vào trong chiếc hộp gỗ hồng rồi đậy nắp lại. Phóng mắt ra ngoài nhìn Langdon, Sophie cảm thấy biết ơn trời đã cho Langdon ở bên cô đêm nay. P. S. Hãy tìm Robert Langdon. Suy lý của ông cô nhằm kéo Langdon vào cuộc giờ đây đã trở nên rõ ràng. Sophie không được trang bị đầy đủ kiến thức để hiểu những ý đồ của ông, vậy nên ông đã chỉ định Robert Langdon làm người hướng dẫn cho cô. Một vị thầy để kèm cặp cô. Không may cho Langdon, đêm nay hóa ra ông còn Có trách nhiệm hơn cả một người thầy. Ông đã trở thành cái đích săn lùng của tay cảnh sát Bezu Fache.. và một lực lượng vô hình đang ráo riết muốn sở hữu Chén Thánh.

Bất kể Chén Thánh hóa ra là cái gì.

Sophie tự hỏi liệu việc tìm ra Chén Thánh có bõ để cô liều mạng sống của mình hay không.

Khi chiếc xe tải lại tăng tốc, Langdon lấy làm hài lòng thấy nó chạy êm ru.

- Cô có biết đường đến Versailles không?

Sophie đưa mắt nhìn.

- Anh muốn đi ngắm cảnh?

- Không, tôi có một kế hoạch. Tôi biết một sử gia chuyên nghiên cứu về tôn giáo, ông ta sống gần vùng Versailles. Tôi không nhớ chính xác nơi ông ấy sống. Nhưng chúng ta có thể tìm ra. Tôi đã đến thăm điền trang của ông ấy một vài lần.

- Tên ông ấy là Leigh Teabing. Trước đây ông từng là một sử gia thuộc Hoàng gia Anh.

- Và ông ta sống ở Paris?

- Đam mê cả đời của Teabing là Chén Thánh. Khi những xì xào về viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion nổi lên khoảng mười lăm năm về trước, ông đã chuyển tới Pháp nhằm tìm kiếm trong các nhà thờ với hi vọng sẽ tìm thấy nó. Ông đã viết một vài cuốn sách về viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion và Chén Thánh. Ông có thể giúp chúng ta mở được hộp mật mã và gợi ý cho chúng ta nên làm gì với nó.

Mắt Sophie tỏ vẻ thận trọng.

- Anh có thể tin ông ta sao?

- Về mặt nào? Về việc ông ta sẽ không đánh cắp thông tin?

- Và không nộp chúng ta cho cảnh sát?

- Tôi không có ý định nói cho ông ấy biết cảnh sát đang truy lùng chúng ta. Tôi hy vọng ông ấy sẽ cho chúng ta tá túc cho đến khi chúng ta làm rõ mọi chuyện.

- Robert này, anh có nghĩ tới việc mọi đài truyền hình trên đất Pháp có thể đã sẵn sàng phát đi hình ảnh của chúng ta hay không? Bezu Fache luôn biết cách lợi dụng các phương tiện truyền thông. Hắn sẽ không để chúng ta tự do đi hết nơi này đến nơi khác mà không bị phát hiện.

Tuyệt vời, Langdon nghĩ bụng. Cuộc ra mắt của mình trên Truyền hình Pháp sẽ mang tiêu đề "Kẻ bị săn lùng ráo riết nhất Paris".Chí ít Jonas Faukman cũng sẽ hài lòng: mỗi khi Langdon được đưa tin trên báo đài, số lượng sách bán ra của ông ta đều tăng vọt lên.

- Ông ta có phải là một người bạn tốt không?

Sophie hỏi.

Langdon không tin Teabing là người ham theo dõi tivi, nhất là vào giờ này, nhưng dẫu sao câu hỏi đó của Sophie cũng đáng cân nhắc. Linh tính mách bảo Langdon rằng Teabing là một người hoàn toàn đáng tin cậy. Một bến đậu an toàn lí tưởng.

Xét hoàn cảnh cụ thể, Teabing có thể sẽ vượt lên bản thân để giúp họ đến mức tối đa có thể. Không chỉ vì ông ta chịu ơn Langdon mà còn vì ông là một chuyên gia nghiên cứu về Chén Thánh, mà Sophie thì khẳng định rằng ông cô là Đại sư của Tu viện Sion. Nếu Teabing nghe thấy điều này, ông ta ắt thèm nhỏ dãi muốn được giúp họ tháo gỡ chuyện này.

- Teabing có thể là một đồng minh đầy quyền năng.

Langdon nói.

- Điều đó còn phụ thuộc vào việc cô muôn kể cho ông ta nghe những gì.

- Fache có thể sẽ treo thưởng bằng tiền.

Langdon cười.

- Hãy tin tôi, tiền là thứ chót hạng mà tay này cần đến.

Leigh Teabing giàu theo cái cách giàu của những nước nhỏ. Là hậu duệ của quận công đầu tiên của dòng họ Lancaster lại Vương quốc Anh, Teabing nhận được của cải theo cái cách cổ xưa - thừa kế. Điền trang của ông ta ở vùng ngoại thành Paris là một cung điện thế kỉ XVII với hai con hồ riêng.

Langdon gặp Teabing lần đầu tiên cách đây một vài năm thông qua Đài phát thanh Anh quốc BBC. Teabing đã tiếp cận BBC với đề nghị làm một bộ phim tài liệu lịch sử, trong đó, ông sẽ giới thiệu lịch sử đầy xung đột của Chén Thánh với khán giả xem truyền hình. Những nhà sản xuất chương trình của BBC rất thích giả thuyết sốt dẻo của Teabing, cũng như công việc nghiên cứu uy tín và năng lực của ông, nhưng người ta lo ngại rằng khái niệm này gây sốc và khó nuốt đến mức, chung cuộc, nó có thể làm hoen ố danh tiếng của đài với tư cách là một cơ quan báo chí có chất lượng cao. Theo gợi ý của Teabing, hãng BBC đã giải tỏa được nỗi sợ mất uy tín ấy bằng cách thỉnh cầu một số nhà sử học được khắp thế giới kính nể tham gia vào ba đoạn phim đặc biệt, tất cả họ đều xác định tính chất lạ kì của bí mật về Chén Thánh, dựa trên nghiên cứu của riêng từng người.

Langdon ở trong số những nhân vật được lựa chọn ấy.

Đài BBC đã đưa Langdon đến điền trang của Teabing ở Paris bằng máy bay để quay phim. Langdon ngồi trước máy quay trong phòng khách sang trọng của Teabing và tham gia vào câu chuyện của ông ta, thừa nhận thái độ hoài nghi ban đầu của mình khi nghe câu chuyện dị bản về Chén Thánh, rồi miêu tả những năm nghiên cứu đã thuyết phục mình như thế nào để đi đến tin rằng câu chuyện đó là thật. Cuối cùng, Langdon trình bày một vài trong số những nghiên cứu của riêng mình - một loạt các mối liên hệ kí tượng học hỗ trợ mạnh mẽ cho những giả thuyết gây tranh cãi ấy.

Khi chương trình phát ở Anh quốc, bất chấp thành phần tham dự và những bằng chứng thông qua các tài liệu xác thực, giả thuyết này đã đụng chạm mạnh với nếp tư duy Cơ đốc phổ biến đến nỗi lập tức vấp phải một cơn bão tố thù địch tẩy chay.

Chương trình này chưa bao giờ được phát ở Mỹ, nhưng ảnh hưởng của nó lại vang vọng khắp cả Đại Tây Dương. Ít lâu sau, Langdon nhận được một tấm thiếp từ một người bạn cũ - vài chữ đơn giản: Cả anh sao, Robert?

- Robert này.

Sophie hỏi.

- Anh chắc chắn là chúng ta có thể tin người này chứ?

- Tôi hoàn toàn chắc chắn. Chúng tôi là những đồng nghiệp, ông ta không cần tiền đâu và tình cờ tôi biết được rằng ông ấy rất khinh thường giới cầm quyền Pháp. Chính phủ Pháp đã đánh thuế ông đến mức phi lý bởi vì ông đã mua một điểm mốc lịch sử. Ông ấy sẽ không vội vã hợp tác với Fache đâu.

Sophie nhìn sâu vào con đường tối đen như mực.

- Nếu chúng ta tìm gặp ông ta, anh muốn cho ông ta biết đến đâu?

Langdon có vẻ chẳng lo lắng chút nào.

- Hãy tin tôi đi, Leigh Teabing là người am hiểu tường tận về Tu viện Sion và Chén Thánh hơn bất kì ai trên đời.

Sophie nhìn Langdon:

- Hơn cả ông tôi sao?

- Ý của tôi là anh ấy am hiểu chuyện này hơn bất kì ai ở ngoài hội kín đó.

- Làm sao anh có thể biết được Teabing không phải là một thành viên của tổ chức này?

Teabing đã bỏ cả đời để tìm cách phổ biến sự thật về chiếc Chén Thánh. Trong khi lời thề của Tu viện Sion là giấu kín bản chất thật sự của Chén Thánh.

- Theo tôi, điều đó nghe như một sự xung đột về lợi ích vậy.

Langdon hiểu những lo lắng của cô. Saunière đã trực tiếp trao lại cho cô hộp mật mã, mặc dù cô chẳng biết nó đựng gì hoặc phải làm gì với nó, nên cô rất ngần ngại khi phải dính dáng đến một người hoàn toàn xa lạ. Trong việc đánh giá những thông tin còn bí ẩn, bản năng bao giờ cũng là một phương pháp có hiệu quả.

- Chúng ta chưa cần nói ngay với Teabing về viên đá đỉnh vòm. Hoặc thậm chí không nói gì hết. Ông ấy sẽ cho chúng ta một nơi trú ẩn, cả thời gian để suy ngẫm và có thể, khi chúng ta nói chuyện với ông ấy về Chén Thánh, biết đâu cô sẽ vỡ lẽ ra tại sao ông cô lại trao cho cô viên đá đỉnh vòm.

- Cho chúng ta chứ.

Sophie sửa lại.

Langdon cảm thấy một niềm tự hào khiêm tốn và một lần nữa ông lại tự hỏi tại sao ông Saunière cố ý gán ông vào chuyện này.

- Anh biết ít nhiều về nơi ở của Teabing chứ?

- Điền trang của ông ấy được gọi là Château Villette.

Sophie quay lại với vẻ không tin.

- Chính Château Villette sao?

- Đúng vậy.

- Bạn oách đấy.

- Cô biết điền trang ấy?

- Tôi đã đi qua đó. Nó nằm trong một vùng toàn các lâu đài. Cách đây hai mươi phút lái xe.

Langdon cau mày.

- Xa đến vậy sao?

- Đúng thế, ngần ấy thời gian đủ cho anh nói cho tôi biết Chén Thánh thực ra là cái gì?

Langdon dừng lại.

- Tôi sẽ kể cho cô nghe tại nhà Teabing. Ông ta và tôi chuyên về những lĩnh vực khác nhau của huyền thoại này, cho nên, nghe cả hai chúng tôi, cô sẽ nắm được đầy đủ câu chuyện về Chén Thánh.

Langdon mỉm cười.

- Ngoài ra, Chén Thánh là cả cuộc đời Teabing, nên nghe Leigh Teabing kể chuyện Chén Thánh cũng giống như nghe thuyết tương đối từ chính miệng Einstein.

- Hy vọng Leigh không phản đối khách đến vào lúc đêm khuya.

Nói cho chính xác, đó đích thị là ngài Leigh. Langdon chỉ mắc lầm lẫn này có một lần.

- Teabing quả là một tính cách đặc biệt. Nữ hoàng đã phong tước hiệu Hiệp sĩ cho ông cách đây mấy năm sau khi ông soạn một bộ lịch sử kì vĩ về Ngôi nhà ở xứ York.

Sophie nhìn Langdon.

- Anh đang đùa, phải không? Chúng ta sắp tới thăm một Hiệp sĩ ư?

Langdon mỉm cười vụng về.

- Sophie ạ, chúng ta đang đi tìm Chén Thánh. Còn ai có thể giúp chúng ta đắc lực hơn một hiệp sĩ?
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 52

Khu đất rộng 185 mẫu của Château Villette nằm ở vị trí 25' tây bắc Paris trong vùng ngoại ô Versailles. Được thiết kế bởi kiến trúc sư Francois Mansart cho Bá tước Aufflay vào năm 1668, đây là một trong những lâu đài lịch sử quan trọng nhất ở Paris. Hoàn chỉnh với hai con hổ hình chữ nhật và những khu vườn do kiến trúc sư Le Nôtre thiết kế, Château Villette là một tòa lâu đài khiêm nhường hơn là uy nghi lộng lẫy. Người ta âu yếm mệnh danh cho nó là Petite Versailles- Versailles nhỏ.

Langdon hãm phanh và chiếc xe tải bọc thép rùng mình dừng lại ở chân đường xe vào lâu đài dài tới một dặm. Bên kia chiếc cổng bảo vệ uy nghi, tòa dinh thự của Ngài Leigh Teabing nổi lên xa xa trên một bãi cỏ. Tấm biển trên cổng ghi bằng tiếng Anh: PRIVATE PROPERTY. NO TRESPASSING (Tài sản tư nhân. Không được phép xâm phạm).

Như để tuyên bố rằng tự bản thân nhà mình là một đảo Anh quốc trên đất Pháp, Teabing không chỉ trương biển bằng tiếng Anh, mà còn cho đặt hệ thống liên lạc từ cổng vào ở phía bên phải của chiếc xe tải - ở tất cả các quốc gia châu Âu phía này là phía ghế hành khách, ngoại trừ nước Anh.

Sophie nhìn hệ thống liên lạc đặt sai chỗ bằng con mắt lạ lùng:

- Nếu như ai đó tới đây mà không chở hành khách thì sao?

- Đừng hỏi.

Langdon có trải nghiệm này với Teabing.

- Ông ấy thích mọi thứ vẫn theo cách bên quê nhà.

Sophie hạ cửa xe bên phía cô:

- Anh nên nói thì hơn.

Langdon xoay người đổi tư thế và vươn mình ra qua Sophie để bấm nút trên hệ thống liên lạc: Thoảng một mùi nước hoa quyến rũ từ Sophie phả vào mũi ông và ông nhận ra họ đang kề sát bên nhau biết bao. Ông vẫn đợi trong tư thế ngả người bất tiện ấy, trong khi chuông điện thoại bắt đầu reo trên chiếc micrô nhỏ.

Cuối cùng thì hệ thống liên lạc cũng kêu lạo xạo và một giọng Pháp cáu kỉnh lên tiếng:

- Château Villette đây. Ai đang gọi đấy?

- Tôi là Robert Langdon.

Langdon nói to, vẫn xoài người trên lòng Sophie.

- Tôi là một người bạn của ngài Leigh Teabing. Tôi cần sự giúp đỡ của ông ấy.

- Ông chủ tôi đang ngủ. Cũng như tôi đây. Ông có công chuyện gì với ông chủ tôi?

- Đây là chuyện riêng. Một vấn đề ông ấy đặc biệt quan tâm.

- Vậy thì tôi chắc chắn rằng ông chủ sẽ vui lòng tiếp ngài vào sáng mai!

Langdon xoay người đi một chút:

- Chuyện này rất quan trọng đấy.

- Giấc ngủ của ngài Leigh cũng rất quan trọng. Nếu ông là bạn, thì hắn phải biết rằng ngài không được khoẻ chứ?

Ngài Leigh Teabing bị bại liệt từ hồi nhỏ, và bây giờ vẫn phải đeo nẹp chân và dùng nạng để đi lại, nhưng Langdon thấy ông vẫn tràn trề nhựa sống trong lần gặp trước đến nỗi khó có thể coi đó là một tật nguyền.

- Làm ơn nói với ngài là tôi đã phát hiện được thông tin mới về Chén Thánh. Mà thông tin ấy không thể chờ đến sáng mai được.

Một quãng ngừng kéo dài.

Sophie và Langdon đợi, động cơ xe tải vẫn ì ầm chạy không tải. Cả một phút trôi qua.

Cuối cùng ai đó lên tiếng:

- Ôi ông bạn của tôi, tôi dám cá là anh vẫn đang theo giờ tiêu chuẩn ở Harvard.

Giọng nói mạnh mẽ và nhẹ nhàng.

Langdon toét miệng cười khi nhận ra chất giọng Anh đặc sệt ấy:

- Leigh à, xin lỗi vì đã đánh thức ông vào cái giờ khiếm nhã này.

- Người giúp việc của tôi nói rằng không những anh đang ở Paris mà còn muốn tiết lộ thông tin về Chén Thánh nữa.

- Tôi nghĩ điều đó có thể lôi ông ra khỏi giường mà.

- Thì thế đấy.

- Liệu có cơ may là ông mở cửa tiếp một người bạn cũ không?

- Những ai kiếm tìm sự thực thì còn hơn cả bạn bè. Họ là anh em ruột thịt.

Langdon đảo mắt nhìn Sophie, quá quen với cái thói thích diễn kịch của Teabing.

- Thực ra tôi sẽ mở cửa thôi.

Teabing tuyên bố.

- Nhưng trước tiên tôi phải xác định tấm lòng chân thật của anh đã. Một bài kiểm tra sát hạch về danh dự đối với anh. Anh phải trả lời ba câu hỏi.

Langdon rên rỉ rồi thì thầm với Sophie:

- Hãy chịu đựng cùng tôi nhé. Tôi đã nói trước rồi mà, ông ấy là một tính cách đặc biệt.

- Câu hỏi đầu tiên của anh đây.

Teabing tuyên bố, giọng điệu như Hercule.

- Tôi phải đãi anh cà phê hay trà?

Langdon biết Teabing rất ghét cà phê Mỹ:

- Trà đi. Hiệu Earl Grey.

- Rất tốt. Câu hỏi thứ hai. Anh dùng dường hay sữa?

Langdon đắn đo.

- Sữa đi.

Sophie thì thầm bên tai ông.

- Tôi nghĩ người Anh sẽ dùng sữa.

- Sữa.

Langdon nói.

Im lặng.

- Đường được không?

Teabing không nói gì.

Khoan! Giờ thì Langdon đã nhớ ra thứ đồ uống đăng đắng mà ông đã được mời trong cuộc đến thăm lần thước và nhận ra câu hỏi này là một cái mẹo.

- Chanh!

Ông tuyên bố.

- Earl Grey với chanh.

- Quả vậy.

Giờ đây Teabing có vẻ rất khoái.

- Và cuối cùng, tôi sẽ hỏi anh một câu nghiêm túc nhất.

Teabing dừng lại rồi sau đó nói bằng một giọng rất trịnh trọng.

- Lần cuối cùng một vận động viên chèo thuyền của trường Harvard thắng một tay đua của trường Oxford tại giải Henley là vào năm nào?

Langdon không biết, nhưng ông có thể mường tượng ra lí do duy nhất câu hỏi được đưa ra:

- Một trò hề lố bịch như thế chưa bao giờ xảy ra cả.

Cửa bật mở:

- Trái tim anh chân thật, anh bạn của tôi. Anh có thể vào.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 53

- Ngài Vernet!

Người quản lí trực đêm của Ngân hàng ký thác Zurich nhẹ cả người khi nghe thấy giọng của ông chủ tịch ngân hàng trên điện thoại.

- Ngài vừa đi đâu thế ạ? Cảnh sát đang ở đây. Tất cả mọi người đều đang đợi ngài!

- Tôi đang gặp một rắc rối nhỏ.


Ông chủ tịch ngân hàng nói, giọng nghe có vẻ khổ sở.

- Tôi cần ông giúp ngay.

Ngài đang gặp chuyện nghiêm trọng hơn một rắc rối nhỏ nhiều, người quản lí nghĩ thầm. Cảnh sát đã phong tỏa toàn bộ ngân hàng và đang da rằng đích thân tay đại úy của DCPJ sẽ đến với lệnh khám xét mà ngân hàng đòi hỏi phải xuất trình.

- Tôi có thể giúp ngài bằng cách nào?

- Chiếc xe tải bọc thép số ba. Tôi cần phải tìm ra nó.


Bối rối, người quản lí kiểm tra lịch phân phát hàng:

- Nó vẫn còn ở đây mà. Tại bãi bốc dỡ tầng một.

- Thực tế là không phải vậy đâu. Hai kẻ bị cảnh sát truy lùng đã đánh cắp chiếc xe tải đó rồi.

- Cái gì? Làm sao chúng có thể lái xe ra khỏi ngân hàng được cơ chứ?

- Tôi không thể nói chi tiết trên điện thoại được, nhưng chúng ta gặp một tình huống có thể cực kì bất lợi cho ngân hàng.

- Ngài cần tôi giúp gì đây?

- Tôi muốn ông khởi động hệ thống phát tín hiệu khẩn cấp của chiếc xe tải đó.


Người quản lí trực đêm dõi mắt vào hộp điều khiển LoJack đằng kia căn phòng. Cũng giống như rất nhiều chiếc xe bọc thép khác, mỗi chiếc xe tải của ngân hàng đều được trang bị một hệ thống được kiểm soát từ ngân hàng thông qua máy radio, hệ thống này có thể được khởi động từ ngân hàng. Người quản lí mới chỉ sử dụng hệ thống báo động này có một lần, sau mỗi vụ cướp, và nó đã hoạt động một cách hoàn mĩ không thể chê vào đâu được - xác định vị trí của chiếc xe tải và tự động truyễn ta độ về các nhà chức trách. Tuy nhiên, tối nay người quản lí lại có cảm giác rằng ông chủ tịch đang hy vọng mình sẽ hành động thận trọng hơn mọi ngày.

- Thưa ngài, ngài phải hiểu rằng nếu tôi khởi động LoJack thì hệ thống báo động sẽ ngay lập tức thông báo cho các nhà chức trách biết chúng ta đang gặp rắc rối.

Vernet im lặng trong vài giây:

- Phải, tôi hiểu. Dù sao cũng cứ làm thế đi. Xe tải số ba. Tôi sẽ giữ máy. Tôi cần biết vị trí chính xác của chiếc xe tải đó ngay sau khi ông xác định được.

- Tôi sẽ làm ngay, thưa ngài!


* * *

Ba mươi giây sau đó, cách ngân hàng bốn mươi cây số, một hệ thống báo động nhỏ xíu được giấu kín dưới gầm chiếc xe tải bọc thép bắt đầu khởi động nhấp nháy.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 54

Khi Langdon và Sophie lái chiếc xe tải bọc thép trên đoạn đường ngoằn ngoèo giữa hai hàng cây dương về phía tòa nhà, Sophie đã có thể cảm thấy cơ bắp mình thư giãn. Thật nhẹ người khi thoát ra khỏi đường giao thông công cộng, và cô nghĩ ít có nơi nào trú chân an toàn hơn là khu điền trang kín cổng cao tường của người nước ngoài vui tính này.

Họ rẽ vào đoạn đường xoáy vòng tròn và Château Villêtte hiện ra trước mắt họ ở phía bên phải. Tòa nhà cao ba tầng và dài ít nhất mười sáu mét, mặt tiền bằng đá xám, chiếu sáng bởi những trụ đèn chiếu đặt bên ngoài. Mặt tiền thô nháp này kề sát và tương phản với những khu vườn cảnh tinh khiết và hồ nước như gương soi.

Đèn trong nhà lúc này vừa bật lên.

Thay vì lái xe đến cửa trước, Langdon lái vào khu đỗ xe náu dưới những cây vạn niên thanh.

- Chẳng tội gì phơi nó ra để từ ngoài đường cái cũng nhìn rõ mồn một.

Ông nói.

- Hoặc là để Leigh thắc mắc tại sao mình lại đến trong chiếc xe bọc thép tả tơi thế này.

Sophie gật đầu:

- Chúng ta làm gì với chiếc hộp mật mã này đây? Có lẽ không nên để nó lại trong xe, nhưng nếu Leigh nhìn thấy nó, chắc chắn ông ta sẽ muốn biết đó là cái gì.

- Đừng lo.

Langdon nói, rồi cởi áo khoác khi bước ra khỏi chiếc xe. Ông cuộn chiếc áo khoác bằng vải tuýt quanh chiếc hộp rồi ôm bọc đó trong tay như ẵm trẻ vậy.

Sophie có vẻ vẫn hoài nghi:

- Tinh vi.

- Teabing không bao giờ tự ra mở cửa, ông ta thích bước vào khi khách đã yên vị. Tôi sẽ tìm thấy một nơi nào đó bên trong nhà để cất giấu cái này trước ông ấy gặp chúng ta.

Langdon dừng lại.

- Thực ra, có lẽ tôi nên dặn cô điều này trước khi chúng ta nói chuyện với ông ấy. Ngài Leigh là người có khiếu hài hước mà mọi người thường cảm thấy hơi.. kì dị một chút.

Sophie không tin là còn có điều gì đêm nay có thể khiến cô coi là kỳ dị.

Lối đi dẫn tới cửa vào chính được rải sỏi. Nó lượn tới một cánh cửa bằng gỗ sồi chạm trổ và gỗ anh đào, với một chiếc vòng gõ cửa bằng đồng to như quả bưởi. Trước khi Sophie nắm lấy chiếc vòng đó, cánh cửa đã mở tung ra từ bên trong.

Một người quản gia nghiêm trang và thanh lịch đứng trước mặt họ, chỉnh lại lần cuối chiếc cà vạt trắng và bộ tuxedo mà rõ ràng ông ta vừa mới mặc vào. Trông ông ta trạc ngũ tuần, nét mặt tao nhã và vẻ nghiêm khắc cho thấy rành là ông ta chẳng khoái gì sự hiện diện của họ ở đây.

- Ngài Leigh sẽ xuống ngay bây giờ.

Ông ta nói dõng dạc bằng chất giọng Pháp đặc sệt.

- Ông chủ đang mặc trang phục. Ông ấy không muốn tiếp đãi khách trong khi đang bận đồ ngủ. Tôi có thể giúp ông cầm chiếc áo khoác được không?

Ông ta gườm gườm nhìn bọc vải tuýt trong tay Langdon.


- Cám ơn, tôi cầm được mà.

- Tất nhiên là được. Xin mời đi lối này.


Người quản gia dẫn họ đi xuyên qua một phòng chờ sang trọng lát cẩm thạch rồi vào một phòng khách trang trí tuyệt đẹp dưới ánh sáng êm dịu từ những ngọn đèn rủ tua kiểu Victoria. Không khí trong nhà có vẻ rất cổ xưa và cách nào đó lại có chất vương giả với mùi thuốc lá tẩu, mùi lá trà, mùi rượu vang Tây Ban Nha đang nấu và cả mùi đất của kiến trúc đá.

Trên nền bức tường phía xa, giữa hai bộ áo giáp sáng lấp lánh là một lò sưởi xù xì đủ lớn để nướng cả một con bò đực. Bước tới lò sưởi, người quản gia quỳ xuống và đánh một que diêm, Châm vào mớ củi gỗ sồi đã xếp sẵn và nhóm lò lên. Một ngọn lửa nhanh chóng bùng lên lách tách.

Người quản gia đứng lên và vuốt phăng chiếc áo vét của mình:

- Ông chủ tôi đề nghị quí khách cứ tự nhiên như ở nhà.

Nói rồi, ông đi khỏi, để Langdon và Sophie ở lạỉ một mình.

Sophie phân vân không biết nên ngồi lên thứ gì trong số những đồ cổ kê cạnh lò sưởi - chiếc đivăng nhung thời Phục hưng, chiếc xích đu hình móng đạỉ bàng hay là đôi ghế nguyện bằng đá nom như vừa được khuân ra từ một điện thờ Byzantine nào đó.

Langdon lôi hộp mật mã ra khỏi chiếc áo khoác, đoạn tiến tới chiếc đivăng nhung kia và luồn chiếc hộp gỗ xuống gầm đi-văng, khuất hẳn tầm nhìn. Rồi rũ mạnh chiếc áo, ông mặc nó trở lại, vuốt phẳng ve áo và vừa mỉm cười với Sophie vừa ngồi ngay lên chỗ vừa cất giấu kho báu.

Chiếc đi văng này đây, Sophie nghĩ bụng rồi ngồi xuống bên cạnh Langdon.

Trong khi đăm đăm nhìn ngọn lửa đang to dần, tận hưởng hơi ấm tỏa ra, Sophie có cảm giác ông cô ắt rất thích căn phòng này. Ván lát tường bằng gỗ màu đen được trang trí bằng những bức ha của các bậc thầy thời xưa, trong số đó cô nhận ra một bức Poussin - người ha sĩ ưa thích thứ hai của ông cô. Trên mặt lò sưởi, một bức tượng bán thân nữ thần Isis đang quan sát toàn bộ căn phòng.

Ngay sát dưới nữ thần Ai Cập, ở bên trong lò sưởi, có hai máng xối nước hình đầu thú được dùng làm vỉ lò, miệng của chúng há hốc để lộ ra cổ họng rỗng toác đầy đe da. Hồi bé, những chiếc máng xối nước hình thú như vậy bao giờ cũng khiến cho Sophie hoảng sợ, cho mãi tới khi ông cô chữa cho cô khỏi cảm giác sợ hãi ấy bằng cách đưa cô bé lên nóc Nhà thờ Đức Bà trong một cơn mưa giông.

- Công chúa, cháu hãy nhìn vào những con vật ngốc nghếch này.

Nói rồi ông chỉ về phía những máng xối nước mưa hình thú với những cái miệng đang phun nước tung toé kia.

- Cháu có nghe thấy cái tiếng ngồ ngộ trong cuống họng chúng không?

Sophie gật gật đầu, rồi mỉm cười khi nghe thấy tiếng nước chảy ồng ộc trong cổ họng của những con thú ấy.

- Bọn chúng đang xúc miệng đấy.

Ông nói với cô bé.

- Ôi những con thú biết xúc miệng - Cargariser!

Và đó cũng chính vì thế mà người ta đặt những cái tên thật ngớ ngẩn cho những con thú ấy.

Từ đó Sophie không bao giờ còn sợ chúng nữa.

Kí ức thân yêu ấy khiến Sophie cảm thấy quặn đau khi thực tế nghiệt ngã của vụ giết người lại bóp chặt tlm cô. Ông đã ra đi rồi. Cô hình dung hộp mật mã ở dưới đivăng và tự hỏi không biết Leigh Teabing có cách nào để mở nó hay không. Hay là ta cứ hỏi thẳng ông ấy. Lời trăng trối của ông cô đã dặn cô tìm Robert Langdon. Ông chẳng nói gì về chuyện kéo thêm ai khác vào cuộc. Chúng ta cần có một nơi để trốn. Sophie tự nhủ và quyết định sẽ tin tưởng vào nhận định của Robert.

- Ngài Robert.

Một giọng nói oang oang đâu đó phía sau họ.

- Tôi thấy là ngài đi cùng với một thiếu nữ.

Langdon đứng lên. Sophie cũng bật dậy. Giọng nói ấy vọng xuống từ đầu cầu thang vòng cung, uốn khúc lên tầng hai chìm trong bóng tối. Trên đầu cầu thang, một hình người chuyển động trong bóng tối, chỉ thấy được vóc dáng mà thôi.

- Xin chào.

Langdon nói vọng lên.

- Ngài Leigh, tôi xin giới thiệu đây là cô Sophie Neveu.

- Rất hân hạnh.


Teabing hiện ra dưới ánh đèn.

- Cảm ơn ngài đã tiếp chúng tôi.

Sophie nói, lúc này đã thấy rõ ông ta mang nẹp chân bằng kim loại và dùng nạng để di chuyển. Ông ta đang bước từng bậc một xuống cầu thang.

- Tôi biết giờ đã rất khuya.

- Bạn thân mến, khuya quá hóa sớm!


Ông mỉm cười:


- Vous ri etes pas Americaine?


Sophie lắc đầu:

- Parisienne!

- Tiếng Anh của cô rất tuyệt đấy.


- Cám ơn ngài. Tôi đã học tại trường Hoàng gia Holloway.

- Ra thế, thảo nào.


Teabing tập tễnh bước xuống bậc bậc dưới.

- Có lẽ Robert đã kể cho cô biết tôi đã từng giảng dạy ở Oxford.

Teabing nở một nụ cười tinh quái với Langdon.

- Tất nhiên tôi cũng đã nộp đơn xin dạy ở Harvard, xem như trường an toàn của tôi.

Vị chủ nhân đã tới chân cầu thang, Sophie thấy ông chẳng có vẻ hiệp sĩ gì hơn Ngài Elton John. Với vóc dáng bệ vệ và khuôn mặt hồng hào, Teabỉng có mái tóc rậm hung dỏ, cặp mắt màu nâu vui tươi dường như lúc nào cũng lấp lánh mỗi khi ông cất lời ông mặc quần chiết li và sơ mi lụa rộng bên trong chiếc vét có ha tiết hình cánh hoa. Mặc dù phải dùng nẹp chân bằng nhôm, nhưng ông đi thẳng thớm, nhún nhảy với cái vẻ đường hoàng tựa như kế truyền từ dòng dõi quí tộc hơn là do nỗ lực một cách hữu thức.

Teabing tới và chìa tay cho Langdon:

- Robert này, anh giảm cân đi nhiều đấy.

Langdon nhoẻn miệng cười:


- Còn ngài thì có tăng trọng một chút.


Teabing cười nồng hậu, vỗ vỗ cái bụng tròn trịa của mình:

- Touché! Dạo này, lạc thú thể xác duy nhất của tôi dường như chỉ là ăn uống.

Quay sang Sophie, ông dịu dàng cầm lấy tay cô, khẽ cúi đầu hôn nhẹ lên những ngón tay cô và ngánh mắt đi:

- Quý nương.

Sophie liếc nhìn Langdon, không biết mình đã trở lui về thời xa xưa hay vừa bước vào một nhà thương điên.

Người quản gia lúc nãy mở cửa đón họ, giờ bước vào với một bộ đồ trà mà ông ta xếp lên một chiếc bàn trước lò sưởi.

- Đây là Rémy Legaludec.

Teabing giới thiệu.

- Quản gia của tôi.

Người quản gia mảnh mai gật đầu cứng nhắc và lại biến mất.

- Rémy là Lyonnais.

Teabỉng thì thào như thể người Lyon là một bệnh dịch vậy.

- Nhưng ông ta nấu nước sốt rất ngon.

Nom Langdon có vẻ thích chí:

- Tôi những tưởng ngài sẽ nhập khẩu cả một đội ngũ nhân viên người Anh cơ đấy?

- Trời, không đâu! Tôi sẽ không cầu cho bất cứ ai vô phúc vớ phải một đầu bếp người Anh, trừ bọn thu thuế người Pháp.

Ông liếc nhìn Sophie.

- Pardonnez-moi, thưa cô Neveu. Xin cô hãy tin rằng rằng ác cảm của tôi đối với nước Pháp chỉ mở rộng đến chính trị và sân bóng đá mà thôi. Chính phủ nước cô đã cuỗm mất tiền của tôi, và đội bóng nước cô thì vừa mới hạ nhục chúng tôi.

Sophie mỉm cười thoải mái.

Teabing quan sát cô một lúc rồi lại nhìn Langdon:

- Có chuyện gì đó vừa xảy ra. Cả hai bạn đều có vẻ xáo động.

Langdon gật đầu:


- Chúng tôi đã có một đêm hay ho đấy, ngài Leigh ạ.

- Không nghi ngờ gì nữa. Nửa đêm, anh đến đập cửa nhà tôi không báo trước, lại đem chuyện Chén Thánh ra làm quà. Hãy nói cho tôi biết, thực ra chuyện này có liên quan đến chiếc Chén Thánh hay không? Hay đơn giản anh nói như vậy chỉ vì anh biết rõ rằng đó là chủ đề duy nhất sẽ đánh thức được tôi vào nửa đêm thế này?


Cả hai, mỗi thứ một chút, Sophie nghĩ thầm, hình dung tới hộp mật mã bên dưới chiếc đi-văng.

- Ngài Leigh này..

Langdon nói.

- Chúng tôi muốn nói chuyện với ngài về Tu viện Sion.

Cặp lông mày rậm rạp của Teabing uốn cong lên, lộ vẻ tò mò.

- Những người gìn giữ Chén Thánh. Vậy ra hai người đến đây về chuyện Chén Thánh thật. Anh nói có mang một số thông tin tới. Có gì mới không, Robert?

- Có thể. Chúng tôi cũng không dám chắc lắm đâu. Chúng tôi có thể biết rõ hơn nếu như chúng tôi nhận được thông tin từ phía ngài trước đã.


Teabing dứ dứ ngón tay:

- Vẫn cái thói ranh ma của người Mỹ. Một trò có đi có lại. Tốt thôi. Tôi sẵn sàng phục vụ các bạn. Tôi có thể nói cho các bạn biết về điều gì đây?

Langdon thở dài:

- Tôi hy vọng ngài sẽ sẵn lòng giải thích cho cô Neveu đây về bản chất thực của Chén Thánh.

Teabing có vẻ sửng sốt:

- Cô ấy chưa biết sao?

Langdon lắc đầu.

Một nụ cười dần nở trên mặt Teabing, nó gần như tục tĩu:

- Robert này, thì ra anh mang đến cho tôi một trinh nữ.

Langdon cau mặt, liếc nhìn Sophie:

- Trinh nữ là một thuật ngữ mà những người say mê Chén Thánh dùng để mô tả bất kì ai chưa bao giờ nghe câu chuyện thật về Chén Thánh.

Teabing sốt sắng quay sang Sophie:

- Cô biết đến đâu rồi?

Sophie nhanh chóng phác qua những gì trước đây Langdon đã giải thích cho cô hay - Tu viện Sion, các Hiệp sĩ Templar, tài liệu Sangreal và cả Chén Thánh mà nhiều người cho rằng đó không chỉ là một chiếc chén.. mà đúng hơn là một thứ gì đó đầy quyền lực.


- Chỉ có vậy thôi sao?


Teabing ném về phía Langdon một cái nhìn công phẫn.

- Robert này, tôi cứ tưởng anh là một quý ông cơ đấy. Anh đã tước mất của cô gái này đoạn cao trào!

- Tôi biết, tôi nghĩ ngài và tôi có thể..


Rõ ràng là Langdon thấy phép ẩn dụ khiếm Teabing dùng đã đi quá xa và như thế là quá đủ rồi.

Teabing đã khiến Sophie bị cột chặt vào cái nhìn long lanh của ông:


- Cô bạn thân mến, cô là một trinh nữ về Chén Thánh. Và hãy tin tôi, cô sẽ không bao giờ quên lần đầu tiên của mình đâu.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 55

Nằm trên chiếc đi-văng bên cạnh Langdon, Sophie uống tách trà và ăn bánh nướng, cảm thấy tác động dễ chịu của chất cafein và đồ ăn. Ngài Leigh Teabing tươi rói trong khi vụng về dạo bước phía trước lò sưởi để ngỏ, những chiếc nẹp chân lách cách trên nền đá.

- Chén Thánh..

Teabing nói, giọng giảng giải.

- Hầu hết mọi người chỉ hỏi tôi là hiện nó ở đâu. Tôi e rằng đó chính là câu hỏi tôi sẽ không bao giờ trả lời được.

Ông quay lại nhìn thẳng vào mặt Sophie.

- Tuy nhiên.. câu hỏi thích đáng nhất chính là: Chén Thánh là gì?

Sophie cảm thấy một vẻ rào đón mang tính học thuật ở cả hai người bạn nam của mình.

- Để có thể hiểu một cách đầy đủ về Chén Thánh.

Teabing tiếp tục.

- Trước tiên chúng ta cần phải hiểu Kinh thánh đã. Cô hiểu như thế nào về Tân ước?

Sophie nhún vai:

- Thực sự, tôi chẳng hiểu gì cả. Người nuôi dạy tôi nên người lại rất sùng kính Leonardo Da Vinci.

Teabing có vẻ vừa sửng sốt vừa hài lòng:

- Một tâm hồn sáng láng. Tuyệt! Thế thì chắc chắn cô phải biết rất rõ Leonardo là một trong số những người nắm giữ bí mật về Chén Thánh. Và ông ta còn cất giấu những đầu mối về bí mật đó trong nghệ thuật của mình.

- Vâng, Robert đã nói cho tôi như vậy.

- Thế những quan điểm của Da Vinci về Tân ước thì sao?

- Tôi không biết.

Mắt Teabing trở nên vui thích khi ông khoát tay về phía giá sách ở đầu kia phòng:

- Robert này, phiền anh được không? Ở ngăn dưới cùng ấy. Cuốn La stora di Leonardo - Truyện về Leonardo.

Langdon băng ngang qua căn phòng, ông tìm thấy một cuốn sách khổ lớn về nghệ thuật, đem nó lại, đặt lên mặt bàn giữa hai người. Xoay cuốn sách về phía Sophie, Teabing lật mở tấm bìa dày và chỉ vào một loạt những lời trích dẫn bên trong bìa sau.

- Trích từ sổ tay của Da Vinci về luận chiến và suy biện..

Teabing vừa nói vừa chỉ tay vào một đoạn trích cụ thể.

- Tôi nghĩ cô sẽ thấy đoạn trích này phù hợp với cuộc thảo luận của chúng ta.

Sophie đọc những dòng chữ đó lên.

Nhiều người đã buôn bán những ảo tưởng và những phép màu giả mạo, lừa gạt đám đông ngu ngốc.

LEONARDO DA VINCI.


- Đây là một đoạn khác..

Teabing vừa nói vừa chỉ tay một đoạn trích khác.

Sự ngu dốt mù lòa đưa chúng ta lầm đường lạc lối.

Hỡi lũ người trần tục khôn khổ, hãy mở mắt ra!

LEONARDO DA VINCI.


Sophie cảm thấy hơi ớn lạnh:

- Da Vinci nói về Kinh Thánh đấy ư?

Teabing gật đầu:

- Những cảm giác của Leonardo về Kinh Thánh liên quan trực tiếp tới Chén Thánh. Thực tế, Da Vinci đã vẽ chiếc Chén Thánh đích thực, mà lát nữa tôi sẽ chỉ cho cô xem, nhưng chúng ta phải nói về Kinh Thánh trước đã.

Teabing mỉm cười:

- Và tất cả những gì cô cần biết về Kinh Thánh đã được tổng kết bởi vị Tiến sĩ, Giáo sĩ vĩ đại Martyn Percy.

Teabing hắng giọng và tuyên bố.

- Kinh Thánh không đến từ thiên đàng bằng đường fax đâu.

- Xin lỗi tôi không hiểu?

- Bạn thân mến, Kinh Thánh là một sản phẩm của con người. Chứ không phải là của Chúa. Kinh Thánh không phải rơi xuống từ những đám mây bằng phép mầu. Con người đã sáng tạo ra Kinh Thánh như một hồ sơ lịch sử ghi lại những thời đại loạn lạc và nó đã triển hóa qua vô số những bản dịch, bổ sung, và sửa chữa. Lịch sử chưa bao giờ có một bản chính dứt khoát của cuốn sách này!

- Tôi hiểu rồi.

- Chúa Jesus Christ là một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng chấn động, có lẽ là người lãnh đạo bí hiểm nhất và đem lại nhiều nguồn cảm hứng nhất mà thế giới từng thấy. Với tư cách là vị Chúa Cứu Thế được báo trước, Jesus lật đổ các vị vua, khơi gợi cảm hứng cho hàng triệu người và đã sáng lập ra nhiều nền triết học. Với tư cách là người kế tục dòng dõi của các vị vua Salomon và David, Jesus có quyền chính đáng đòi ngôi Quân vương của người Do Thái. Thật dễ hiểu là cuộc đời của Người được hàng nghìn tín đồ trên khắp các vùng đất ghi chép lại.

Teabing dừng lại một chút để nhấm nháp tách trà rồi đặt nó trở lại trên mặt lò sưởi.

- Có hơn tám mươi bản phúc âm được xem xét để soạn Tân ước, nhưng chỉ có một số tương đối ít được chọn để đưa vào - Matthew, Mark, Luke, và John.

- Ai là người lựa chọn những bản phúc âm đó để đưa vào Tân ước?

Sophie hỏi.

- Aha!

Teabing bốc lên.

- Điều mỉa mai cơ bản của Thiên Chúa giáo! Cuốn Kinh thánh mà chúng ta biết ngày nay được tập hợp và chỉnh lý bởi Constantine Đại đế - một hoàng đế La Mã ngoại đạo.

- Tôi tưởng Constantine là một tín đồ Thiên Chúa giáo.

Sophie nói.

- Đâu có.

Teabing chế giễu.

- Ông ta cả đời là một kẻ ngoại đạo mãi đến khi nằm trên giường lâm chung, quá yếu không thể phản đối được, mới chịu lễ rửa tội. Dưới thời Constantine, quốc giáo của La Mã thờ thần Mặt trời - thờ Sol Invictus tức là Mặt trời không gì thắng nổi - và Constantine chính là tu sĩ đứng đầu quốc giáo đó. Rủi cho ông ta, một cuộc náo loạn tôn giáo ngày càng dữ dội đã tràn ngập La Mã. Ba thế kỉ sau khi Chúa Jesus Christ bị đóng đinh câu rút, số tín đồ của Người đã tăng bội lên theo cấp luỹ thừa. Những tín đồ Thiên Chúa giáo và những người ngoại đạo bắt đầu gây chiến với nhau, và cuộc xung đột phát triển đến mức đe da chia cắt La Mã làm hai. Constantine quyết định phải làm một điều gì đó. Vào năm 325 sau Thiên Chúa Giáng Sinh, ông ta quyết tâm thống nhất La Mã dưới hình thức một tôn giáo duy nhất. Đó chính là Thiên chúa giáo.

Sophie ngạc nhiên:

- Tại sao một hoàng đế ngoại đạo lại lựa chọn đạo Thiên chúa làm quốc giáo?

Teabing cười khúc khích:

- Constantine là một nhà kinh doanh rất giỏi. Ông ta thấy rõ Thiên chúa giáo ở xu thế đang lên, và đơn giản là ông ta ủng hộ con ngựa thắng cuộc. Các sử gia lấy làm thán phục sự xuất sắc của Constantine trong việc cải đạo cho những người thờ thần Mặt Trời thành những tín đồ Thiên chúa giáo. Bằng việc phối quyện những biểu tượng, ngày tháng, nghi lễ ngoại đạo vào truyền thống Thiên chúa giáo đang ngày càng phát triển, ông đã tạo ra một thứ tôn giáo lai tạo có thể chấp nhận được với cả hai phía.

- Thần thông biến hóa.

Langdon nói.

- Những dấu tích của dị giáo trong những biểu tượng của Thiên chúa giáo là không thể chối cãi được. Đĩa mặt trời Ai Cập thành hào quang quanh đầu các thánh Thiên Chúa giáo. Những hình diễn đạt nữ thần Isis cho Horus bú, đứa con trai được thụ thai một cách kì diệu, đã trở thành mẫu phác thảo cho các hình vẽ hiện đại thể hiện Đức Mẹ Đồng Trinh Mary cho Chúa Hài Đồng Jesus bú. Và gần như mọi yếu tố trong các nghi lễ của Ki tô giáo như mũ tế, bàn thờ thánh, thánh ca, lễ ban thánh thể cũng như nghi thức rước mình Thánh Chúa đều được lấy thẳng từ những nghi lễ bí nhiệm dị giáo có từ trước đó.

Teabing rên rỉ:

- Đừng có để một nhà ký tượng học bắt đầu giảng những bức tượng thánh Thiên chúa giáo. Chẳng có gì trong Thiên chúa giáo là chính gốc. Mithras - mà người ta vẫn quen gọi là Con trai của Thượng đế và Ánh sáng của thế giới - là một vị thần tiền - Thiên chúa giáo chào đời vào ngày 25 tháng 12, và khi chết được chôn trong một ngôi mộ bằng đá, rồi tái sinh sau đó ba ngày. Tiện đây xin nói ngày 25 tháng 12 cũng được coi là ngày sinh của Orisis, Adonis và Dionysus. Thần Krishna lúc mới sinh ra đã được dâng tặng vàng, trầm hương và cả nhựa trầm hương. Thậm chí ngày thánh hàng tuần của Cơ đốc giáo cũng là thứ đánh cắp từ những người ngoại đạo.

- Ý ông muốn nói gì?

- Thoạt kỳ thủy.

Teabing nói.

- Thiên chúa gỉáo tôn vinh ngày hành lễ thứ Bảy Sabbath của người Do Thái, nhưng Constantine đã chuyển ngày lễ đó cho trùng với ngày lễ thần Mặt Trời của người ngoại đạo.

Ông dừng lại và cười.

- Cho đến tận bây giờ, những con chiên đi lễ chầu sáng Chủ nhật vẫn không mảy may biết rằng họ ở đó để dự tế thần Mặt Trời hàng tuần của người ngoại đạo - Chủ nhật có nghĩa là ngày của mặt trời mà.

Sophie cảm thấy đầu óc quay cuồng:

- Và tất cả những điều này đều liên quan đến Chén Thánh?

- Quả vậy.

Teabing nói.

- Hãy tiếp tục cùng tôi. Trong thời kì hợp nhất tôn giáo ấy, Constantine cẫn tăng cường truyền thống mới trong Thiên chúa giáo và triệu tập một cuộc họp toàn giáo hội nổi tiếng gọi là Hội đồng Nicaea.

Sophie có nghe nói đến Hội đồng Nicaea nhưng chỉ biết đó là nơi ra đời của Kinh tin kính Nicene.

- Tại cuộc họp này..

Teabing nói.

- Nhiều khía cạnh của Thiên chúa giáo đã được mang ra tranh cãi và biểu quyết như lễ Phục sinh vai trò của các giám mục, việc quản lí các nghi lễ và tất nhiên, cũng bao gồm cả tính thiên giới của Jesus.

- Tôi không hiểu. Tính thiên giới của Jesus nghĩa là sao?

- Bạn thân mến ơi..

Teabing tuyên bố.

- Cho đến thời điểm đó trong lịch sử, các tín đồ của Jesus vẫn chỉ coi Người như một nhà tiên tri trần tục.. nghĩa là một con người vĩ đại và đầy uy lực nhưng dù sao mặc lòng vẫn là một con người. Một kẻ trần tục.

- Không phải là Con trai của Chúa trời sao?

- Đúng vậy.

Teabing nhận xét.

- Việc cố tình công nhận Jesus là Con trai của Chúa trời được đề xuất chính thức và biểu quyết bởi Hội đồng Nicaea.

- Hượm đã. Ông nói tính thiên giới của Jesus là kết quả của một cuộc bỏ phiếu biểu quyết?

- Mà lại là một cuộc biểu quyết tương đối hẹp nữa chứ.

Teabing bổ sung.

- Dù sao đi nữa, việc khẳng định tính thiên giới của Christ có tính quyết định đối với việc thống nhất đế chế La Mã và cơ sở quyền lực mới của Vatican. Bằng việc chính thức xác nhận Jesus là Con trai của Chúa Trời, Constantine đã biến Jesus thành một vị thần tồn tại ngoài phạm vi thế giới loài người, một thực thể với quyền uy vượt qua mọi thách thức. Điều này không chỉ ngăn chặn những thách thức mới đối với Thiên Chúa giáo từ phía những người ngoại đại, mà giờ đây những tín đồ của Christ còn có thể tự cứu chuộc mình thông qua con đường linh thiêng duy nhất đã được chế định - nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã.

Sophie liếc nhìn Langdon, ông nhẹ nhàng gật đầu khẳng định.

- Tất cả đều có liên quan đến quyền lực.

Teabing tiếp tục.

- Christ, với tư cách là Chúa Cứu thế, có tầm quan trọng quyết định đối với sự vận hành của nhà thờ cũng như của nhà nước. Nhiều học giả tuyên bố rằng Nhà thờ sơ khởi đã đánh cắp Jesus theo nghĩa đen từ những tín đồ ban đầu của ông, cưỡng doạt thông điệp nhân văn của ông, trùm lên thông điệp đó một tấm màn dày đặc là tính thiên giới và sử dụng nó để mở rộng quyền lực của riêng họ. Tôi đã viết một vài cuốn sách về đề tài này.

- Tôi đồ rằng hẳn các tín đồ Thiên chúa giáo mộ đạo ngày nào cũng gửi cho ông những bức thư hằn học?

- Tại sao họ phải làm thế?

Teabing phản bác.

- Đại đa số những tín đồ Thiên chúa có học vấn đều biết lịch sử tín ngưỡng của mình. Quả thực, Jesus là một con người vĩ đại và giàu sức mạnh. Những thủ đoạn chính trị lừa lọc của Constantine không làm giảm sút sự vĩ đại của Jesus. Không ai nói rằng Christ là một vụ gian trá hay chối cãi rằng ông đã đi khắp thế gian và gieo vào lòng hàng triệu người khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chúng tôi chỉ nói Constantine đã lợi dụng tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn lao của Christ. Làm như vậy, ông ta đã tạo ra diện mạo của Thiên chúa giáo như chúng ta biết ngày nay.

Sophie liếc nhìn cuốn sách nghệ thuật nằm trước mặt cô, háo hức muốn giở tiếp để xem bức ha của Da Vinci về Chén Thánh.

- Sự xoay chuyển là thế này..

Teabing lúc này nói nhanh hơn.

- Bởi vì Constantine nâng vị thế của Jesus sau khi Jesus qua đời gần bốn thế kỉ, nên đã có hàng ngàn tài liệu ghi chép lại cuộc đời của Jesus như là một con người trần tục. Để chỉnh biên lại những cuốn sách lịch sử này, Constantine biết mình cần làm một cú táo bạo. Do vậy, đã nẩy sinh thời điểm sâu sắc nhất trong lịch sử Thiên chúa giáo.

Teabing dừng lại và nhìn Sophie.

- Constantine đã tài trợ và đặt người viết một cuốn Kinh Thánh mới, trong đó tước bỏ những bản phúc âm mô tả những nét con người trần thế của Christ và tô điểm những bản thể hiện Christ như một vị thần. Những sách phúc âm trước đó bị coi là bất hợp pháp, phải thu gom lại và đốt sạch.

- Một lưu ý thú vị.

Langdon bổ sung.

- Bất kì ai chọn những bản phúc âm bị cấm thay vì bản của Constantine đều bị coi là dị giáo. Từ dị giáo phát sinh từ thời điểm lịch sử này. Trong tiếng Latinh từ haereticus có nghĩa là "sự lựa chọn". Những ai lựa chọn, lịch sử khởi nguyên của Christ đều là những kẻ dị giáo đầu tiên của thế giới.

- Cũng may cho các sử gia..

Teabing nói.

- Một vài trong số những phúc âm mà Constantine cố gắng thủ tiêu vẫn còn sót. Vào những năm 1950, người ta đã tìm thấy những bản ghi chép về vùng Biển Chết cuộn trong ống được giấu trong một cái hang gần Qumran trong sa mạc Judean. Và tất nhiên, phải kể đến những ống giấy Coptic mà người ta đã tìm thấy vào năm 1945 tại Nag Hammadi. Thêm vào việc kể câu chuyện thật về Chén Thánh, những văn bản này đều nói đến chức năng dẫn dắt của Christ bằng những lời lẽ rất người. Tất nhiên, phù hợp với truyền thống bóp méo thông tin của mình, Vatican đã ra sức dẹp việc lưu hành những ống giấy này. Tại sao lại không cơ chứ? Những ống giấy đó đã phanh phui sự bịa đặt và những sai trật rành rành về lịch sử, khẳng định rõ ràng rằng cuốn Kinh thánh ngày nay được soạn thảo và biên tập bởi những người có sẵn một đề cương chính trị: đề cao tính thiên giới của con người trần Jesus Christ và lợi dụng ảnh hưởng của Người để củng cố cơ sở quyền lực của chính họ.

- Tuy nhiên..

Langdon phản đối.

- Cần phải nhớ rằng mong muốn của Nhà Thờ hiện đại - xóa bỏ những tài liệu ấy - xuất phát từ một niềm tin chân thành vào quan điểm đã chế định về Christ. Vatican bao gồm những người mộ đạo sâu sắc thực sự tin rằng những tài liệu đối lập kia chỉ là những chứng cứ giả mạo mà thôi.

Teabing cười tủm khi ông ngồi vào chiếc ghế đối diện với Sophie:

- Như cô thấy đấy, vị giáo sư của chúng ta thông cảm với Roma hơn tôi nhiều. Tuy nhiên, ông ấy đúng khi nói giới tu sĩ hiện đại tin rằng những tài liệu chống đối kia là chứng cứ giả mạo. Điều đó hoàn toàn có thể hiểu được. Cuốn Kinh thánh của Constantine đã là chân lý của họ suốt nhiều thế kỉ. Chẳng có ai được truyền giáo triệt để hơn những người truyền giáo.

- Điều ông ấy muốn nói..

Langdon nói.

- Là chúng ta thờ các vị thần của cha ông chúng ta.

- Điều tôi muốn nói..

Teabing phản đối.

- Là hầu hết những điều ông cha chúng ta dạy chúng ta về Christ là sai. Cũng như những câu chuyện về Chén Thánh.

Sophie nhìn lại đoạn trích của Da Vinci ở trước mặt cô. Sự ngu dốt mù lòa đưa chúng ta lầm đường lạc lối. Hỡi lũ người trần tục khôn khổ, hãy mở mắt ra!

Teabing với tay lấy cuốn sách và lật đến trang giữa:

- Và cuối cùng, trước khi tôi chỉ cho cô thấy những bức ha của Da Vinci về Chén Thánh, tôi muốn cô hãy xem qua cái này.

Ông giở tới một bức đồ ha màu in tràn cả hai trang.

- Tôi cho rằng cô nhận ra bức bích họa này chứ?

Ông ta đang đùa, đúng không? Sophie nhìn chăm chú vào bức bích họa nổi tiếng mọi thời đại - Bữa ăn tối cuối cùng - bức tranh huyền thoại của Da Vinci trên tường nhà thờ Santa Maria della Grazie ở Milan. Bức bích họa đang hư nát ấy mô tả cảnh Jesus và các tông đồ của mình vào lúc Jesus thông báo rằng một tông đồ đã phản bội ông.

- Vâng, tôi biết bức tranh tường này.

- Vậy thì có lẽ cô sẽ cho phép tôi làm một trò nhỏ này nhé? Xin cô hãy nhắm mắt lại.

Lưỡng lự rồi cô nhắm mắt lại.

- Jesus ngồi ở đâu?

Teabing hỏi.

- Ở giữa.

- Tốt. Và ông cùng với các tông đồ đang ăn thứ gì vậy?

- Bánh mì. Rõ ràng là thế.

- Tuyệt. Thế họ uống gì?

- Rượu. Họ uống rượu.

- Tuyệt. Câu hỏi cuối cùng đây. Có bao nhiêu cốc rượu trên mặt bàn?

Sophie dừng lại nhận ra đây là câu hỏi bẫy. Sau bữa tối, Jesus đã cầm chiếc cốc rượu của mình lên, uống cùng với các tông đồ.

- Một chiếc.

Cô trả lời.

- Chiếc cốc. Chiếc cốc của Christ. Chén thánh. Jesu chỉ truyền tay với họ một cốc rượu vang thôi giống như những người Thiên chúa giáo hiện đại làm trong lễ Thánh Thể.

Teabing thở dài:

- Cô mở mắt ra được rồi.

Cô mở mắt. Teabing cười tự mãn. Sophie xoáy mắt vào bức tranh, và ngạc nhiên thấy mọi người ngồi ở bàn ấy đều có một ly rượu vang, kể cả Christ nữa. Mười ba chiếc ly. Hơn nữa, những chiếc ly này đều nhỏ, không có chân và bằng thủy tinh. Không hề có một chiếc chén thiêng nào trong bức tranh này. Không có Chén Thánh.

Mắt Teabing lấp lánh:

- Hơi lạ lùng đấy, cô không nghĩ như vậy sao, vì cả Kinh Thánh lẫn giai thoại về Chén Thánh đều tôn vinh thời điểm này như là sự xuất hiện chính thức của Chén Thánh. Kì thay, Da Vinci có vẻ như đã quên không vẽ chiếc Chén thiêng của Christ.

- Chắc chắn các học giả nghiên cứu nghệ thuật sẽ phải lưu ý đến điều này.

- Cô sẽ bị sốc khi biết rằng những điều bất thường mà Da Vinci đưa vào bức tranh này, hầu hết các học giả hoặc là không nhìn ra hoặc là cố tình phớt lờ đi. Trên thực tế, bức tranh này chính là toàn bộ chìa khóa để mở ra bí mật Chén Thánh. Da Vinci đã phơi bày ra cả trong Bữa tối cuối cùng.

Sophie hăm hở rà mắt trên bức tranh:

- Bức bích họa này cho chúng ta biết thực sự Chén Thánh là cái gì sao?

- Không phải là cái gì..

Teabing thì thào.

- Mà là ai mới đúng. Chén Thánh không phải là một vật. Trên thực tế, đó là một.. người.
 
Chỉnh sửa cuối:
23,437 ❤︎ Bài viết: 3750 Tìm chủ đề
Mật Mã Da Vinci - Chương 56

Sophie đăm đăm nhìn Teabing hồi lâu, rồi quay sang Langdon:

- Chén Thánh là một người thật sao?

Langdon gật đầu:

- Thực tế, đó là một phụ nữ.

Bằng vào cái nhìn đờ đẫn trên khuôn mặt Sophie, Langdon có thể nói họ đã làm cô hoang mang. Langdon chợt nhớ ra ông cũng có phản ứng như vậy khi lần đầu tiên nghe lời khẳng định ấy. Mãi tới khi ông hiểu ra biểu tượng đằng sau Chén Thánh thì mối liên hệ với tính nữ ấy mới trở nên rõ ràng.

Rõ ràng Teabing cũng có suy nghĩ tương tự như vậy:

- Robert này, có lẽ đây là lúc nhà ký tượng học làm sáng tỏ vấn đề, đúng không?

Bước tới một cái bàn gần đấy, ông tìm thấy một mảnh giấy và đặt nó trước mặt Langdon.

Langdon rút từ trong túi áo ra một chiếc bút máy:

- Sophie, cô biết biểu tượng hiện đại dành cho nam và nữ chứ?

Ông vẽ kí tượng nam và kí tượng nữ.

- Tất nhiên.

Cô trả lời.

- Những hình này..

Ông nói nhẹ nhàng.

- Không phải là biểu tượng ban đầu của nam và nữ đâu. Nhiều người đã lầm khi cho rằng biểu tượng nam bắt nguồn từ một cái khiên và một cái thương, còn biểu tượng nữ là một tấm gương phản chiếu vẻ đẹp. Thực ra những biểu tượng này bắt nguồn từ những biểu tượng trong thiên văn cổ xưa là nam thần Hỏa tinh và nữ thần Kim tinh. Những biểu tượng ban đầu bao giờ cũng đơn giản hơn nhiều.

Langdon vẽ lên mẩu giấy một kí tượng khác.

- Đây là biểu tượng ban đầu dành cho nam.

Ông giảng giải cho Sophie biết.

- Một chiếc dương vật ở dạng thô sơ.

- Rất thích đáng.

Sophie nhận xét.

- Có thể nói thế.

Teabing bổ sung.

Langdon tiếp tục:

- Biểu tượng này chính thức được biết đến như là lưỡi gươm, và nó tượng trưng cho sự hiếu chiến và nam tính. Trong thực tế, biểu tượng dương vật chính xác này ngày nay vẫn được sử dụng trên đồng phục của quân đội để chỉ cấp bậc.

- Thực thế.

Teabing nhe răng ra cười.

- Anh càng lắm dương vật cấp bậc anh càng cao. Nam nhi vẫn là nam nhi mà.

Langdon cau mày lại:

- Tiếp tục, biểu tượng nữ, như cô có thể hình dung, là hoàn toàn ngược lại.

Ông lại vẽ một biểu tượng khác lên mẩu giấy.

- Biểu tượng này được gọi là chiếc ly.

Sophie ngước lên, vẻ ngạc nhiên.

Langdon có thể thấy cô đã nhận ra mối liên hệ:

- Chiếc ly..

Langdon nói vậy.

- Giống hình một cái cốc hay một chiếc bát, và quan trọng hơn, nó giống hình tử cung đàn bà. Biểu tượng này biểu đạt tính nữ, tính chất đàn bà và tính phồn thực.

Lúc này Langdon nhìn thẳng vào Sophie.

- Sophie, truyền thuyết bảo chúng ta rằng Chén Thánh là một chiếc ly - một loại cốc. Nhưng sự mô tả Chén Thánh như một chiếc ly thực chất là một phép phóng dụ để bảo vệ bản chất đích thực của Chén Thánh mà thôi. Có nghĩa là truyền thuyết dùng hình ảnh chiếc ly như một ẩn dụ cho một cái gì quan trọng hơn nhiều.

- Một phụ nữ?

Sophie hỏi.

- Chính xác.

Langdon mỉm cười.

- Chiếc Chén, theo nghĩa đen, là biểu tượng cổ xưa của tính chất đàn bà và Chén Thánh biểu thị tính nữ thiêng liêng và nữ thần, điều này tất nhiên hiện nay đã mai một, thực tế đã bị Nhà Thờ loại bỏ. Quyền năng của người nữ và khả năng sản sinh ra sự sống đã từng được coi là linh thiêng, nhưng sự linh thiêng ấy đe da sự thăng tiến của Nhà Thờ mà đại đa số thành phần là nam, và thế là tính nữ thiêng liêng bị cho là quỷ quyệt và không trong sạch. Chính con người, chứ không phải Chúa, đã tạo ra khái niệm "tội tổ tông truyền", theo đó Eve đã ăn quả táo và gây ra sự sa đọa của loài người. Đàn bà trước đây là người đem lại sự sống thiêng liêng thì giờ đây lại trở thành kẻ thù.

- Tôi nên bổ sung một chút.

Teabing hùn vào.

- Khái niệm về đàn bà với tư cách là người đem lại sự sống chính là nền tảng của tôn giáo cổ xưa. Sinh nở là huyền bí và đầy quyền năng.

Buồn thay, triết lý Thiên Chúa giáo sau này đã quyết định biển thủ quyền năng tạo sinh của người nữ bằng cách không đếm xỉa đến sự thật sinh học ấy và biến đàn ông thành Đấng Sáng Tạo. Sáng Thế Ký dạy chúng ta rằng Eve được tạo ra từ chỉếc xương sườn của Adam. Và từ đó người phụ nữ đã trở thành một nhánh phụ của người đàn ông. Đã thế lại là một nhánh phụ tội lỗi nữa. Sáng Thế Ký là điểm khởi đầu cho sự kết thúc đối với các nữ thần.


- Chén thánh..

Langdon nói.

- Tượng trưng cho hình ảnh nữ thần tiêu vong. Khi Thiên chúa giáo lớn mạnh, các tôn giáo ngoại đạo cổ xưa cũng không chết dễ dàng. Các truyền thuyết về các hiệp sĩ đi tìm Chén Thánh bị thất lạc trên thực tế là những truyện kể về cuộc tìm kiếm tính nữ thiêng liêng bị thất lạc một cuộc tìm kiếm bị cấm. Những hiệp sĩ tuyên bố "kiếm tìm Chén Thánh", thực ra đang nói theo cách mã hóa như là một phương thức để bảo vệ an toàn cho chính họ trước thế lực của Nhà Thờ - thế lực đã chế ngự phụ nữ, loại trừ nữ thần, thiêu sống những người không tin Chúa và cấm việc tôn sùng tính nữ linh thiêng của những người ngoại đạo.

Sophie lắc đầu:

- Tôi xin lỗi, khi anh nói rằng Chén Thánh là một con người. Tôi cứ đinh ninh rằng anh định nói đó là một con người có trong thực tế hẳn hoi.

- Đúng vậy.

Langdon trả lời.

- Và không phải bất kì người nào nhé.

Teabing bật ra và phấn khích đứng dậy một cách khó khăn.

- Một người phụ nữ mang theo mình một bí mật, bí mật này hàm chứa một quyền năng ghê gớm đến nỗi nếu bị tiết lộ, nó có thể phá hủy chính nền tảng của Thiên chúa giáo!

Sophie có vẻ bị choáng ngợp:

- Người phụ nữ này có nổi tiếng trong lịch sử không?

- Rất nổi tiếng.

Teabing lượm lấy đôi nạng và chỉ về phía hành lang.

- Bạn thân mến, nếu chúng ta rời đến thư phòng của tôi, tôi sẽ rất vinh dự chỉ cho bạn thấy bức hoạ của Da Vinci về người đàn bà ấy.

Cách đó hai phòng, trong nhà bếp, người hầu Rémy Lagadulec đứng lặng trước một cái tivi. Đài truyền hình đang phát đi bức ảnh một người đàn ông và một phụ nữ. Chính hai người khách mà Rémy vừa mới phục vụ trà.
 
Chỉnh sửa cuối:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back