1,574 ❤︎ Bài viết: 1459 Tìm chủ đề
21137 42
Bài văn của học sinh giỏi: Chứng minh nhận định về truyện ngắn

Đề bài

Trong bàn về truyện ngắn Nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng:

Một truyện ngắn hay và vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân của một chân lý giản dị của mọi thời. Bằng trải nghiệm về truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 đến 1945 anh chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Nhận định:

1. Tô Hoài: "Truyện ngắn chính là cách cưa lấy một khúc đời sống"

2. Nguyễn Minh Châu: "Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ: Chỉ liếc qua những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời của thảo mộc"

3. "Hay niềm nở nhưng cũng hãy cảnh giác với những chư và cách đặt câu lúc nào cũng đứng chực sẵn, lấp ló ngay đầu ngòi bút"

4. Maugham: "Truyện ngắn là sự trình bày một sự kiện theo trình tự của câu chuyện diễn biến hoăc theo trình tự của tâm tình"

5. Pauxtopki: "Truyện ngắn là một truyện viết rất ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì đó bình thường, và cái bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường"

6. Pauxtopki: "Nếu như thơ có những vần luât chặt chẽ, chính xác thì theo tôi hiểu văn xuôi cũng phải có nhịp điệu của nó"

7. Varonin: "Cả tư tưởng, cả tính cách nhân vật cũng chưa làm nên truyện ngắn thực thụ. Còn phải nói cái này nữa: Giọng điệu, cái nhạc tính của tâm trạng, cái khiến cho người đọc không ngừng nảy sinh những liên tưởng, những cảm xúc, thiếu nó, không thể có nghệ thuật"

8. Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây héo khô của chim muông què quặt, của hành tinh lạnh ngắt nhưng trước hết con hãy lắng nghe nỗi buồn của con người.

9. Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó.

10. Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ ngoài kia thoát ra từ những kiếp lầm than.

11. Sống đã rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân.

12. Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra ra.

13. Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn học.

14. Văn học phản ánh hiện thực nhưng không phải là chụp ảnh sao chép hiện thực một cách thời hợt nông cạn. Nhà văn không bê nguyên si các sự kiện, con người vào trong sách một cách thụ động, giản đơn. Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của quá trình nuôi dưỡng cảm hứng thai nghén sáng tạo ra một thế giới hấp dẫn sinh động, thể hiện những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, bản chất của đời sống xã hội con người. Nhân vật trong tác phẩm của một thiên tài thật sự nhiều khi thật hơn cả con người ngoài đời, bởi chính sức sống lâu bền bởi ý nghĩa điển hình của nó. Qua nhân vật ta thấy cả một tầng lớp 1 giai cấp một thời đại thậm chí có nhân vật vượt lên khỏi thời đại có ý nghĩa nhân loại vĩnh cửu sống mãi với thời gian.

15. Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời.

16. Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy là cuộc sống – trường đại học chân chính của thiên tài. Họ đã biết đời sống xã hội của thời đại, đã cảm thấy sâu sắc mọi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những nỗi lo âu bực bội tuổi hổ và những ước mong tha thiết nhất của loài người. Đó chính là cái hơi thở cái sức sống của những tác phẩm vĩ đại.

17. Văn học thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có.

18. Nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội. Những giá trị nghệ thuật chân chính từ xưa tới nay đều là sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình. Những đỉnh cao nghệ thuật trong bất kỳ một nền văn học nào cũng đều được xây cất trên nền tảng vững chắc của thực tại cuộc sống.

19. Phong cách là cái còn lại hoặc hạt nhân mà sau khi từ nhà văn chúng ta bóc đi những cái không phải của bản thân anh ta và tất cả những thứ mà anh ta giống với người khác.

20. Văn như con người của nó, văn thâm hậu thì con người nó trầm mà tỉnh, văn ôn nhu thì con người của nó khiêm mà hòa, văn cao khiết thì con người của nó đạm mà giản, văn hùng hồn thì con người nó cương và nhanh, văn chuyên sâu thì con người nó thuần túy mà đứng đắn.

21. Phải Chăng Anh chưa bao giờ đọc hàng giấy biết kín mà có có cảm giác rằng anh cũng có thể viết không kém và đúng nguyên như thế cũng nên, vì trong ấy không có gì là đặc sắc riêng biệt. Nhưng liền ngay đó anh bắt gặp một mẩu truyện ngắn, một bức phác thảo, một vài dòng thôi và anh cảm thấy khác hẳn, anh không thể nói được như thế và có thể là hay hơn hoặc kém hơn, nhất định là phải khác, bởi vì muốn nói được như thế, muốn bắt đúng cái nốt ấy thì phải có một thanh quản tổ chức đúng như thế, cũng giống như chim ấy. Đó là nét riêng biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo và đầy sức sống.

22. Nếu như đó là một nhà văn cũ đã quen thuộc thì câu hỏi không phải là anh ấy là người như thế nào mà sẽ là: Nào anh có thể cho tôi thêm một điều gì mới– Một nhà văn lớn quyết không thể chỉ có một con dấu.

23. Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là một phát minh về hình thức và khám phá mới về nội dung.

24. Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của chính mình Cái giọng riêng của chính mình mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác.

25. Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy Nó đòi hỏi phải có phong cách tức là phải có nét gì đó rất mới rất riêng thể hiện trong tác phẩm của mình.

26. Nhà văn Nga M. Gorky có nói: "Nghệ sĩ là con người biết khai thác những ấn tượng riêng – chủ quan – của mình, tìm thất trong những ấn tượng đó cái có giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng."

27. "Trong một nhân tài thì một phần mười là thiên bẩm và chín phần mười là nước mắt và mồ hôi".

28. Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người đọc bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều, nhưng việc ai cũng biết cả rồi.

Bài làm

Nhà văn Thạch Lam đã từng quan niệm "đối với tôi văn chương không phải đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại văn chương là thứ khi giới thành cao và đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo và thay đổi cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sáng và phong phú hơn". Đúng như vậy, nghệ thuật nói chung và Văn chương nói riêng tưởng chừng chỉ là cõi mơ mộng của con người về một thế giới xa xôi, huyền bí. Nhưng không, trái lại với điều ấy văn chương nghệ thuật luôn gắn bó với con người, đem đến cho họ những bài học đúng đắn, những triết lý sâu sắc. Điều này càng đúng đắn hơn đối với truyện ngắn, một thể loại quan trọng, trong sáng tác văn chương. Bàn về vấn đề này nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng, "một truyện ngắn hay và vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân của một chân lý giản dị của mọi thời". Minh chứng rõ nhất cho ý kiến trên chính là những sáng tác truyện ngắn trong giai đoạn 1930 – 1945.

Gorki đã từng cho rằng, "văn học là nhân học". Văn học mang đến cho ta vừa là một thế giới diệu kỳ vừa đào tạo hóa vừa là những bài học sâu sắc có ý nghĩa giáo dục cao, và trước hết đó là một thế giới hiện thực của con người. Tất cả những món ăn tinh thần vô giá, "làm cho lòng người thêm trong sách và phong phú hơn". Với truyện ngắn! Đó là "một truyện ngắn hay" nhưng Nguyễn Kiên khẳng định. Truyện ngắn đó chính là truyện ngắn có giá trị đi vào lòng người và để lại sức sống mãnh liệt. Theo Nguyễn Kiên, một truyện ngắn hay trước hết phải là "những chứng tích của một thời". Tức là phản ánh được hiện thực của thời đại, với những vấn đề đời sống nổi cộm bức thiết nhất. Đồng thời một truyện ngắn hay phải là "hiện thân của một chân lý giản dị của mọi thời". Ở đây Nguyễn Kiên muốn khẳng định, truyện ngắn phải thể hiện được bản chất cốt lõi của nhân sinh, những chân lý muôn đời vượt quá giới hạn của thời đại. Như vậy Ý kiến của Nguyễn Kiên nêu lên một yêu cầu quan trọng đối với nội dung truyện ngắn. Truyện ngắn là một thể loại ngắn gọn, dung lượng nhỏ nhưng lại chuyển tới một nội dung sâu rộng. Vì thế nhà văn cần biết nắm bắt, lựa chọn, phản ánh những vấn đề bản chất thông qua những chi tiết tình huống nhân vật đặc sắc.

Quan niệm về truyện ngắn của Nguyễn Kiên hoàn toàn đúng đắn, chính xác vì đã đưa dựa trên những cơ sở lý luận của truyện ngắn nói riêng và văn học nói chung. Đối với truyện ngắn, nó thường chỉ hướng tới khắc họa một hiện tượng đời sống, tái hiện một cách nhân sinh hay một lát cắt hiện thực.

Do vậy, truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện kết cấu, thường không phức tạp, có truyện diễn ra trong một khoảng thời gian, không gian hạn chế, thường chỉ xoay quanh một tình huống nhất định có tính là tính chất chủ đạo. Truyện ngắn thường chứa những chi tiết cô đúc, lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Tuy ngắn gọn, cô đọng nhưng thể loại truyện ngắn có những phẩm chất thẩm mỹ đặc trưng, tập trung vào khoảnh khắc mà ý nghĩa cuộc sống đậm đặc nhất, ngắn gọn, hàm súc và có khả năng khái quát cao thể hiện thực. Phản ánh được những vấn đề sâu của đời sống, bề sâu tư tưởng và tấm lòng của nhà văn, để sau tài năng của người nghệ sĩ ngôn từ. Bên cạnh đặc trưng riêng thì truyện ngắn cũng như nhiều thể loại khác đều mang trong nó thiên chức của văn học, hướng theo sứ mệnh của văn học, phản ánh hiện thực, nói được những vấn đề nhức nhối của con người đặc biệt là những khát vọng, ước mơ những giá trị tinh thần, có ý nghĩa với mọi thời đại.

Mang trong mình những đặc trưng căn bản đó, truyện ngắn trong giai đoạn 1930 – 1945 đã được những thành tựu rực rỡ, với nhiều tên tuổi lớn trong đó có Thạch Lam và Nam Cao. Đây là hai tác giả nổi tiếng với phong cách nghệ thuật đặc biệt. Đồng thời cũng là hai cây bút truyện ngắn xuất sắc trong giai đoạn 1930 – 1945.

Đến với Thạch Lam người đọc thưởng thức một truyện ngắn như được thưởng thức một bài thơ trữ tình, đượm buồn, rất phẩm chất của con người ông, điềm đạm, tinh tế và rất đỗi nhân hậu. Đọc truyện của Thạch Lam, người đọc giường như chỉ thấy có phẩm chất, mà dường như không hành động, bởi khác với các nhà văn khác, đi miêu tả, chú ý nhiều đến dáng vẻ bên ngoài, thì tài năng chủ yếu khai thác thế giới nội tâm bên trong, đi sâu vào suy nghĩ của nhân vật, khiến người đọc mang những cảm giác bâng khuâng, khó tả. Nhưng khác với Thạch Lam, đi theo con đường lãng mạn, khai thác nội tâm nhân vật, thì nam cao lại là nhà văn hiện thực chủ nghĩa xuất sắc. Ngòi bút của ông luôn hướng về cuộc sống của con người "thấp cổ bé họng" trong xã hội cũ, với một giọng điệu vừa tỉnh táo sắc lạnh, nhưng bên trong thì nặng trĩu sự suy tư, yêu thương.

Không những vậy đọc đoạn văn Nam Cao, Người đọc như cũng sống với nhân vật, phẩn giá cùng nỗi đau về vật chất, cũng như tinh thần, cuối cùng dẫn đến cái chết không sao tránh khỏi. Không êm đềm như Thạch Lam, Mam cao đến với văn chương bằng ngòi bút luôn luôn dậy sóng, dữ dội và dồn dập. Vì vậy, tuy viết cùng thời nhưng truyện ngắn của hai người lại khác nhau, nhưng đều là "truyện ngắn hay" bởi những giá trị của nó đem lại. Tiêu biểu trong sáng tác của hai loại bút, tài năng đó chính là truyện ngắn "Hai Đứa Trẻ" của Thạch Lam và "Chí Phèo" của Nam Cao.

Pus kin đã từng quan niệm, "văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội". Đúng như vậy! Văn học nghệ thuật luôn phản ánh hiện thực trên một phạm vi rộng, nhưng đều được xét về phía quan hệ thẩm mỹ với con người. Điều này càng đúng đắn với truyện ngắn, đặc biệt giai đoạn 1930 – 1945 hiện thực cuộc sống được phản ánh trong truyện chính là cánh cửa đưa chúng ta về với cuộc sống, với con người lúc đó. Đọc "hai đứa trẻ" của Thạch Lam, tác giả đã phản ánh đến người đọc một cách chân thực cảnh phố huyện nghèo, một miền đất, một miền đời bị lãng quên. Thạch Lam đã đưa đến cho độc giả thấy cái nghèo về vật chất, cái đói rách hiện hữu qua mỗi dòng chữ. Gọi là một phố huyện nhưng không đủ tiền mua một bát phở. Thậm chí, còn không đủ để mua một bánh xà phòng. Một phố huyện mang theo cái nghèo bủa vây, rách nát, từ con người cho đến cả đồ vật, cái nghèo đeo đẳng bám theo không gian, thời gian và làm trĩu nặng lòng người. Không chỉ vậy, cuộc sống của người dân nơi Phố huyện được Thạch Lam nhắc đến không chỉ nghèo về vật chất, mà còn trống rỗng về cảm xúc, tinh thần. Họ phải sống một cuộc đời mòn mỏi, tù túng, cầm chừng, giam hãm mình trong cái "ao đời phẳng lặng". Diễn một màn kịch mà động tác cũng như nhân vật không bao giờ thay đổi, cứ thế Thạch Lam đã cho độc giả thấy được mọi thứ diễn ra trong xã hội lúc bấy giờ, nó là một xã hội phẳng lặng, một miền quê quên lãng, với những mảnh đời quên lãng.

Hãy đến với "Chí Phèo" chứng tích mà Nam Cao thể hiện qua đây chính là việc ông đã phản ánh được các mối quan hệ phức tạp ở nông thôn trước cách mạng, đồng thời thể hiện quy luật ở nước ta thời Pháp thuộc, người dân lương thiện bị xã hội xô đẩy vào con đường cùng, trở thành lưu manh hóa, bần cùng hóa, thành một con quỷ dữ và không thể quay lại làm người được nữa. Tất cả những điều nói trên, được thể hiện qua cuộc đời đầy đau thương, bi kịch của Chí Phèo. Sinh ra vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái lò gạch cũ, trần truồng và sáng nhất, Chí Phèo được anh đi thả ông luôn nhặt về nuôi, sau đó rồi truyền tay dân làng. Chí Phèo lớn lên khỏe mạnh, tự làm nuôi thân, có ước mơ, có lòng tự trọng. Nhưng do cái ghen vô cớ lão cáo già bá kiến đã đẩy anh vào tù. Với sự ngạo mạn của nhà tù thực dân, Chí Phèo sau bẩy, tám năm đi tù về khác hẳn, hẳn đã trở thành một con vật lạ, một con quỷ dữ bị dân làng xa lánh. Gặp Thị Nở, Chí Phèo khát khao hoàn lương, nhưng định kiến không cho phép, hắn đã chết ngay trên ngưỡng cửa về với lương thiện. Hiện thực đó được Nam Cao diễn tả đến đau lòng, bởi không chỉ mình Chí Phèo mà đó còn là căn bệnh của những người nông dân "thấp cổ bé họng" trong xã hội cũ. Càng đọc hiện thực lại càng rõ ràng, càng cay nghiệt hơn trước mắt người đọc.

Thế nhưng, một truyện ngắn hay đâu chỉ có vậy! Một truyện ngắn hay ngoài là "chứng tích" của một thời, nó còn là "hiện thân của một chân lý giản dị của mọi thời". Đọc xong một truyện ngắn, gấp lại một quyển sách, những bản chất của vấn đề, tình cảm của tác giả cứ ám ảnh người đọc mãi, thì đó mới là chuyện ngắn hay. Điều này thể hiện rất rõ qua "hai đứa trẻ" của Thạch Lam. Đến với truyện ngắn này, ta bắt gặp tình cảm sâu đậm của nhà văn dành cho những kiếp sống mòn mỏi, bế tắc vô danh chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Cuộc sống của họ cứ diễn ra như đã được biên soạn sẵn, cứ ngày ngày chị tí lại dọn hàng, bác siêu lại gánh phở đi bán, bác xẩm lại ngồi cùng với gia đình trên mảnh chiếu rách, chị em Liên lại thu xếp hàng hóa.. Mọi thứ cứ như vậy diễn ra đừng ấy con người, sống một cuộc đời leo lét, như ngọn đèn của chị tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ.

Nhà thơ Huy Cận đã từng viết.

"Quanh quẩn mãi chỉ vài ba dáng điệu,

Tới hay lui cũng từng nấy mặt người"


Con mắt yêu thương của Liên cũng chính là của Thạch Lam, một nhà văn điềm đạm, tinh tế, đôn hậu trên từng trang viết.

"Hai đứa trẻ", là một bức tranh buồn, trong bức tranh đó con người như đang cầm chừng tồn tại chứ không phải là sống. Chính vì vậy, qua bức tranh ấy, Thạch Lam đồng thời đã rung lên tiếng chuông cảnh tỉnh những con người nhỏ bé, vô danh nhưng đừng vô nghĩa, nhà văn đòi quyền sống cho những con người nhỏ bé, vô danh có ý nghĩa. Cuộc sống như ở phố huyện kia không biết đã dìm chết biết bao mơ ước, bao hi vọng của con người, thậm chí ngay cả những tâm hồn vô tư như Liên. Thế nhưng con người luôn phải làm chủ hoàn cảnh, làm chủ bản thân, phải sống có ý nghĩa, chiến thắng hoàn cảnh. Chắc có lẽ đó là lý do Thạch Lam đã gửi gắm đến cho người đọc thiên truyện này.

Cũng như bao nhà văn khác, chân lý giản dị mà Thạch Lam còn muốn gửi gắm đó là sự khẳng định đề cao khát vọng cuộc sống, hạnh phúc, có ý nghĩa khát vọng thay đổi cuộc đời. Hình ảnh đoàn tàu đã đáp ứng được điều đó. Hằng đêm con tàu bắt đầu từ Hà Nội đi đến phố huyện. Mang theo những âm thanh, ánh sáng, hình ảnh khác lạ. Đó là thứ âm thanh sôi động, náo nhiệt, đó là ánh sáng xanh biếc như ma chơi khi ở xa, còn khi lại gần thì rực rỡ. Đó hình ảnh của hành khách đông vui, nhộn nhịp của đồng và kèn lấp lánh. Đoàn tàu như mang một thế giới khác đi qua, sáng sủa hơn và sôi động hơn đến phố huyện tăm tối, buồn tẻ. Qua những tưởng tượng tình cảm của Thạch Lam, không những ta nhận ra được những bài học sâu sắc, những triết lý đúng đắn, mà ta còn thấy được bước phát triển của tư tưởng nhân đạo trong văn học. Đó là sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, con người đã ý thức được ý nghĩa của cuộc sống cá nhân, sự tồn tại của cá nhân trong cuộc sống. Chính vì điều này, mà Thạch Lam mới hướng ngòi bút đến những con người nhỏ bé, vô danh, khẳng định cuộc sống của họ mà "hai đứa trẻ" là một "truyện ngắn hay" minh chứng cho điều đó.

Nếu như "hai đứa trẻ", là tình cảm xót thương của Thạch Lam dành cho những kiếp người vô danh trong xã hội, thì "chí phèo" lại là sự đồng cảm với những nỗi khổ đau bị đẩy đoạn, và lăng nhục của người nông dân. Đây chính là điều mà làm nên "chân lý giản dị" mà Nam Cao gửi gắm cho bạn đọc. Khí sinh ra vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi, lớn lên trong khó khăn, thiếu thốn vẫn là người lương thiện. Thế mà chỉ vì một cơn ghen vô cớ, bá kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù. Sau khi ra tù Chí Phèo đã hoàn toàn biến đổi, từ một người hiền lành giờ trông như một thằng răng đá, "cái đầu thì trọc lóc, cái răng cao trắng hớn, cái mặt đen mà rất câng câng, trên người chạm trổ những nét rồng, phượng với ông lính cầm trùy trông gớm chết..". Không chỉ nhân hình biến dạng, mà nhân tính cũng bị nhuộm đen, "hắn vừa về hôm trước, hôm sau đã uống rượu ở quán thịt chó từ trưa đến chiều", hăn sống bằng ăn vạ, sống làm tay sai cho bá kiến người đã đẩy hắn đi vào tù. Từ đó trở đi hắn sống bằng máu và nước mắt của bao người dân vô tội, người đã nuôi nấng hắn. Giống như sau tội ác của Chí Phèo là những giọt nước mắt của nam cao trước quy luật đáng sợ của xã hội xưa, muốn tồn tại phải lưu manh, muốn lương thiện thì phải chết.

Thế nhưng, nam cao không để cho Chí Phèo chuyển sâu xuống đáy cùng của một con quỷ dữ. Ông đã nhận được Chí Phèo và phát hiện ra được những bản chất tốt đẹp của Chí Phèo bằng tình thương của Thị Nở. Cũng qua đây ta thấy được một chân lý giản dị mà Nam Cao muốn gửi gắm nữa, đó chính là sức mạnh của tình yêu. Tình yêu đó có thể do sức mạnh mở đường sống và hạnh phúc. Tình người, có sức mạnh hơn bất cứ thứ bạo lực nhà tù nào. Để tạo lên một con quỷ dữ Chí Phèo, nhà tù phải mất bẩy, tám năm trời, nhưng để biến Chí Phèo thành một con người bình thường, Thị Nở chỉ cần có vài ngày ngắn ngủi. Gặp Thị Nở tại bụi chuối trong một đêm trăng sáng, ăn nằm với Thị Nở sáng hôm sau Chí Phèo tỉnh dậy với một trạng thái lo sợ, nhưng cảm nhận được hết những gì mà bấy lâu nay hắn không nhận ra. Anh khao khát được sống một cuộc sống lương thiện, thậm chí mong ước đó còn cao hơn cả tính mạng. Nhưng sau đó bị Thị Nở từ chối đến phũ phàng, cánh cửa về với lương thiện bị đóng lại, Chí Phèo đã chết trong tuyệt vọng. Từ cái chết đó hé ra luồng sáng yêu thương và cảm động, thể hiện niềm tin vào sự nỗ lực của con người. Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời, chết trong niềm đau thương lớn lao vì khát khao mãnh liệt muốn được sống làm người, chứ không cam tâm quay lại làm kiếp thú vật.

Cũng qua Chí Phèo, Nam Cao đã vạch trần được bản chất của xã hội, đó cũng được xem là một chân lý hiện thực góp phần làm cho "Chí Phèo" trở thành một truyện ngắn hay. Nam Cao đã lên án, tố cáo tội ác của chế độ thực dân nửa phong kiến, đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động một cách tàn bạo. Cái thế "quần ngư tranh thực" ở làng Vũ Đại cũng chính là những mối quan hệ của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng.

"Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và "Chí Phèo" của Nam Cao là hai tác phẩm truyện ngắn hay, do nó đã đáp ứng được những yêu cầu mà nhà văn Nguyễn Kiên đặt ra ở đó là "chứng tích của một thời", và "hiện thân của một chân lý giản dị của mọi thời". Đọc hết truyện ngắn này, ta như đều bắt gặp một nỗi buồn gì đó rất riêng, và cũng rất chung, cùng với đó ta bắt gặp tấm lòng của hai nhà văn, và những tư tưởng triết lý của muôn nhà, muôn đời. Không chỉ đặt ra yêu cầu đối với truyện ngắn, ý kiến của nhà văn Nguyễn Kiên còn đặt ra yêu cầu đối với người cầm bút và độc giả. Đối với người cầm bút phải không ngừng mài dũa tài năng, khổ luyện trong lao động chữ nghĩa gắn bó sâu sắc với cuộc đời và con người. Đối với độc giả, để có thể tiếp nhận, khám phá được bê sâu tác phẩm, độc là phải sống hết mình với tác phẩm. Tích cực đồng sáng tạo với nhà văn.

Sautriacop Sêđrin đã từng quan niệm, "nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết". Văn chương nói riêng, và nghệ thuật nói chung luôn luôn là người bạn tri kỷ của con người cho tới ngày tận thế. Điều này càng đúng hơn với truyện ngắn, khi nó vừa là tấm gương soi phản ánh chân thực, hiện thực được xem như là chứng tích một thời, cùng với đó là những "chân lý giản dị", mà nhà văn muốn gửi gắm đến với người đọc.

Có lẽ vì vậy mà giá trị của truyện ngắn thời kỳ 1930 – 1945 nói chung và hai truyện ngắn "hai đứa trẻ" và "Chí Phèo" nói riêng sẽ còn mãi với thời gian, đến với độc giả cả hôm nay và mai sau.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,574 ❤︎ Bài viết: 1459 Tìm chủ đề

Bài văn 1​


Trong dòng chảy của văn học, truyện ngắn luôn được xem là thể loại cô đọng nhưng giàu sức nặng tư tưởng. Nhận định "Một truyện ngắn hay và vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân của một chân lý giản dị của mọi thời" đã chỉ ra giá trị kép của truyện ngắn: Vừa mang dấu ấn lịch sử – xã hội cụ thể, vừa vươn tới những ý nghĩa nhân sinh bền vững. Điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét qua truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930–1945, thời kì văn học hiện thực phê phán phát triển rực rỡ.

Trước hết, truyện ngắn hay là chứng tích của một thời. Giai đoạn 1930–1945 là bối cảnh xã hội Việt Nam chìm trong cảnh áp bức của thực dân phong kiến, đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Văn học không đứng ngoài hiện thực ấy mà trở thành tấm gương phản chiếu trung thực xã hội. Trong truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh làng Vũ Đại với bộ mặt tàn bạo của cường quyền phong kiến, nơi con người bị đẩy đến tha hóa và bị tước đoạt quyền làm người. Số phận Chí Phèo không phải là câu chuyện cá biệt mà là bi kịch chung của người nông dân bị xã hội xô đẩy. Tác phẩm vì thế trở thành chứng tích sống động về một xã hội bất công, nơi con đường sống lương thiện của người dân gần như bị bít kín.

Không chỉ phản ánh nông thôn, truyện ngắn giai đoạn này còn ghi lại hiện thực của tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Trong Hai đứa trẻ, bức tranh phố huyện nghèo hiện lên với nhịp sống tù đọng, quẩn quanh. Ánh sáng le lói của ngọn đèn, của chuyến tàu đêm vụt qua rồi tắt lịm chính là hình ảnh thu nhỏ của một xã hội bế tắc, mòn mỏi. Qua đó, tác phẩm ghi lại một cách tinh tế tâm trạng buồn tẻ, khát vọng đổi thay mơ hồ của con người trong xã hội cũ.

Tuy nhiên, truyện ngắn hay không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực mà còn là hiện thân của những chân lý giản dị của mọi thời. Từ Chí Phèo, Nam Cao gửi gắm một chân lý sâu sắc: Con người sinh ra vốn lương thiện, xã hội tàn bạo mới là nguyên nhân hủy hoại nhân tính. Khát vọng được làm người, được yêu thương của Chí trước khi chết là tiếng nói nhân đạo vượt lên trên giới hạn của thời đại. Tương tự, Hai đứa trẻ không chỉ nói về một phố huyện nghèo trước Cách mạng mà còn gợi lên chân lý muôn thuở về niềm hy vọng le lói trong những kiếp sống nhỏ bé, dù mong manh nhưng không bao giờ tắt hẳn.

Như vậy, truyện ngắn Việt Nam 1930–1945 đã làm sáng tỏ nhận định trên. Mỗi tác phẩm vừa là dấu ấn lịch sử của một giai đoạn đầy biến động, vừa chứa đựng những giá trị nhân sinh bền vững, khiến truyện ngắn vượt qua giới hạn thời gian để sống lâu dài trong lòng người đọc.

Bài văn 2​


Truyện ngắn, với dung lượng nhỏ nhưng hàm lượng tư tưởng lớn, có khả năng ghi lại nhịp đập của thời đại và đồng thời chạm đến những vấn đề muôn thuở của con người. Nhận định cho rằng truyện ngắn hay vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân của chân lý giản dị của mọi thời hoàn toàn phù hợp khi nhìn vào truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930–1945.

Ở phương diện thứ nhất, truyện ngắn giai đoạn này là bản ghi chân thực về xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Trong Vợ nhặt, nạn đói khủng khiếp năm 1945 hiện lên qua những chi tiết ám ảnh: Người chết như ngả rạ, không khí tang tóc bao trùm làng quê. Câu chuyện về một người đàn ông "nhặt" được vợ giữa nạn đói đã phản ánh mức độ cùng cực của đời sống nhân dân. Tác phẩm không chỉ kể một câu chuyện riêng mà lưu giữ hình ảnh cả một thời kì đau thương của dân tộc.

Bên cạnh đó, truyện ngắn của Nam Cao như Đời thừa cũng là chứng tích về bi kịch tinh thần của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Những con người có khát vọng sống đẹp, sống có ích nhưng bị cơm áo đè nặng, bị hiện thực nghiệt ngã bào mòn ý chí. Qua đó, văn học ghi lại một giai đoạn xã hội đầy bế tắc, nơi con người không tìm được lối thoát cho lý tưởng của mình.

Song nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện thực, truyện ngắn sẽ khó có sức sống lâu bền. Điều làm nên giá trị lớn lao của truyện ngắn 1930–1945 chính là ở những chân lý giản dị, vượt thời gian mà nó gửi gắm. Vợ nhặt không chỉ nói về nạn đói mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của con người, niềm tin vào tương lai dù trong hoàn cảnh tăm tối nhất. Khát vọng hạnh phúc gia đình, tình người ấm áp giữa những con người đói khổ là chân lý nhân bản luôn đúng ở mọi thời đại.

Tương tự, bi kịch của nhân vật trí thức trong Đời thừa gợi lên một chân lý quen thuộc: Khi con người không được sống đúng với giá trị tinh thần của mình, họ sẽ rơi vào đau khổ và dằn vặt. Đây không chỉ là vấn đề của xã hội cũ mà còn là câu hỏi mang tính nhân loại về ý nghĩa của sự sống và sáng tạo.

Có thể thấy, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930–1945 vừa khắc họa rõ nét diện mạo của một thời đại lịch sử, vừa chứa đựng những giá trị nhân văn mang ý nghĩa phổ quát. Chính sự kết hợp ấy đã làm nên sức sống lâu bền của truyện ngắn.

Bài văn 3​


Văn học chân chính không chỉ phản ánh hiện thực mà còn soi sáng con người bằng những giá trị bền vững. Nhận định về truyện ngắn như chứng tích của một thời và là hiện thân của chân lý giản dị của mọi thời đã được minh chứng rõ ràng qua truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930–1945.

Trước hết, truyện ngắn giai đoạn này là dấu ấn không thể phai mờ của lịch sử. Xã hội thuộc địa nửa phong kiến với những bất công chồng chất đã in hằn trong từng trang văn. Trong Lão Hạc, hình ảnh người nông dân nghèo đến mức phải bán chó, rồi tìm đến cái chết để giữ trọn nhân phẩm là minh chứng đau xót cho cảnh đời khốn cùng. Câu chuyện ấy phản ánh hiện thực tàn nhẫn của nông thôn Việt Nam, nơi người lương thiện không có con đường sống.

Không khí xã hội ấy còn được thể hiện bằng những gam màu trầm buồn trong truyện ngắn của Thạch Lam. Hai đứa trẻ là một lát cắt nhỏ của đời sống thị dân nghèo, nơi thời gian như ngưng đọng và con người sống trong mỏi mòn, chờ đợi. Tác phẩm lưu giữ hình ảnh một xã hội tù đọng trước Cách mạng, trở thành chứng tích tinh tế của một thời đại.

Tuy nhiên, vượt lên trên giá trị phản ánh hiện thực, truyện ngắn 1930–1945 còn mang trong mình những chân lý giản dị nhưng sâu sắc. Lão Hạc không chỉ là câu chuyện về cái nghèo mà còn khẳng định phẩm giá cao quý của con người. Trong tận cùng đau khổ, lão vẫn chọn cái chết để giữ lòng tự trọng, gửi gắm chân lý rằng nhân phẩm là giá trị thiêng liêng không gì có thể thay thế. Chân lý ấy không chỉ đúng với xã hội cũ mà còn có ý nghĩa với mọi thời đại.

Ở Hai đứa trẻ, dù bức tranh hiện thực buồn bã, nhà văn vẫn để lại ánh sáng của niềm hy vọng. Chuyến tàu đêm, dù chỉ thoáng qua, vẫn đủ để nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng đổi thay. Điều đó thể hiện chân lý giản dị rằng con người, dù sống trong hoàn cảnh nào, vẫn luôn hướng về ánh sáng và tương lai.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930–1945 đã làm trọn vẹn sứ mệnh của mình. Nó vừa là bản ghi trung thực của một thời đại đầy đau thương, vừa là tiếng nói nhân văn về những giá trị phổ quát của con người. Chính điều đó đã khiến truyện ngắn trở thành thể loại nhỏ mà không hề nhỏ trong lịch sử văn học dân tộc.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back