Tổng hợp kiến thức ngữ văn 9, kì 1 - cơ bản, trọng tâm nhất

Thảo luận trong 'Học Online' bắt đầu bởi Cute pikachu, 24 Tháng năm 2021.

  1. Cute pikachu

    Bài viết:
    252
    Tài liệu gồm hai phần: Khái Quát kiến thức Ngữ Văn 9 kì I và Phần Nội Dung đọc hiểu các văn bản. Nhằm giúp các em nhớ các kiến thức cơ bản - trọng tâm của môn Ngữ văn lớp 9, kì I, có nguồn tài liệu ôn tập.

    A. Phần khái quát

    I. Phần Văn bản


    1/ Nghị luận Văn học:

    - Phong cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà)

    - Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (G. G Mác - két)

    - Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

    2. Truyện trung đại

    - Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

    – Truyện Kiều của Nguyễn Du và các đoạn trích Cảnh ngày xuân, Chị em Thúy Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) ;

    – Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái.

    3/ Truyện hiện đại:

    – Làng – Kim Lân;

    – Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long;

    – Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng.

    4/ Thơ hiện đại:

    – Đồng chí – Chính Hữu;

    – Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật;

    – Đoàn thuyền đánh cá– Huy Cận;

    – Bếp lửa – Bằng Việt;

    – Ánh trăng – Nguyễn Duy.

    II/ TIẾNG VIỆT

    – Các phương châm hội thoại;

    – Tổng kết từ vựng

    – Lời dẫn trực tiếp, lời dẫn gián tiếp.

    III/ TẬP LÀM VĂN

    Kiểu văn bản tự sự.

    B. Nội dung kiến thức cơ bản, trọng tâm – phần Văn bản

    1. Phong cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà)

    - Ông là một tác giả chuyên nghiên cứu và viết về chủ tịch Hồ Chí Minh

    - Hoàn cảnh sáng tác: "Phong cách Hồ Chí Minh" được rút trong bài "Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái cao cả" của Lê Anh Trà, in trong cuốn sách "Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam" do Viện Văn hóa xuất bản năm 1990

    - Giá trị nội dung: Vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, thanh cao và giản dị. Phong cách sống của Bác là phong cách sống giản dị nhưng lại vô cùng thanh cao.

    - Giá trị nghệ thuật: Văn bản kết hợp giữa kể và bình luận một cách tự nhiên, chọn lọc những chi tiết tiêu biểu, đan xen thơ, sử dụng nghệ thuật đối lập để làm nổi bật ý: Bác vĩ nhân mà giản dị, gần gũi, am hiểu mọi nền văn hóa nhân loại mà lại rất dân tộc, rất Việt Nam.

    - Bài học nhận thức: Đoạn trích để lại trong lòng người bao niềm ngưỡng vọng chân thành đối với vị lãnh tụ đáng kính của dân tộc. Mỗi chúng ta có thể học tập lối sống giản dị mà thanh cao rất Việt Nam.

    2. Đấu tranh cho một thế giới hòa bình (G. G Mác - két)

    - Là nhà văn người Cô - lôm - bi – a

    - Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được trích từ bài tham luận của G. G Mác - két trong buổi gặp gỡ lần thứ hai vào tháng 8 năm 1986 giữa nguyên thủ 6 nước để cùng đưa ra một bản tuyên bố kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang, thủ tiêu vũ khí hạt nhân để bảo vệ an ninh và hòa bình thế giới

    - Giá trị nội dung: Chiến tranh hạt nhân là mối nguy hại khủng khiếp đe dọa đến loài người và mọi sinh vật sinh sống trên Trái đất. Nhiệm vụ của con người đó chính là phải ngăn chặn nguy cơ đó, là đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

    - Giá trị nghệ thuật: Đây là một văn bản nghị luận rất giàu tính thuyết phục; tất cả các luận điểm và hệ thông luận cứ vô cùng rõ ràng, các chứng cứ đưa ra rất xác đáng, cụ thể; lập luận chặt chẽ giàu thuyết phục.

    3. Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

    - Hoàn cảnh sáng tác: Văn bản "Tuyên bố thế giới về sự phát triển, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em" trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại Liên hợp quốc ngày 30-9-1990, in trong cuốn Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em.

    - Giá trị nội dung: Văn bản phần nào cho ta thấy được thực trạng về cuộc sống của trẻ em trên thế giới hiện nay và nhiệm vụ cụ thể từng quốc gia về cả cộng đồng cần làm vì sự sống còn, quyền được bảo về và phát triển của trẻ em

    - Giá trị nghệ thuật: Văn bản được trình bày chặt chẽ khoa học và vô cùng hợp lí, toàn diện về các vấn đề được nêu ra

    4. Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)

    - Ông học rộng tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hóa. Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời

    - Hoàn cảnh sáng tác: Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16 trong số 20 truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ. Truyện có nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam.

    - Thể loại: Truyện truyền kỳ mạn lục (ghi chép tản mạn những truyện kỳ lạ vẫn được lưu truyền). Viết bằng chữ Hán.

    - Giá trị nội dung:

    +Giá trị hiện thực: Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp số phận người phụ nữ; Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận phụ nữ: Chịu nhiều oan khuất và bế tắc. Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sống của người dân càng rơi vào bế tắc.

    +Giá trị nhân đạo: Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nương; tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu có và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ đức hạnh

    - Giá trị nghệ thuật: Truyện viết bằng chữ Hán, kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự và biểu cảm, khéo léo. Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng. Nhân vật được xây dựng qua lời nói và hành động. Sử dụng yếu tố truyền kỳ (kỳ ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

    5. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Phạm Đình Hổ)

    - Ông sống vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư. Đến thời Minh Mạng nhà Nguyễn, nhà vua mời ông ra làm quan, dù ông đã mấy lần từ chức nhưng vẫn bị mời ra.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Đoạn trích nằm trong tác phẩm Vũ trung tùy bút, viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX),

    - Giá trị nội dung: "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh" kể về thói ăn chơi hưởng lạc sa hoa, vô độ của chúa Trịnh Sâm và đời sống sa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê- Trịnh, đưa đến một góc nhìn chân thực, phơi bày thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam dưới thời vua Lê – chúa Trịnh.

    Tác phẩm không chỉ mang giá trị văn chương mà còn mang giá trị lịch sử đáng ghi nhận.

    - Giá trị nghệ thuật: Phạm Đình Hổ thành công ở thể loại tùy bút, sự ghi chép rất chân thực, sinh động mà lại giàu chất trữ tình. Các chi tiết miêu tả chọn lọc kĩ càng, đắt giá, giàu sức thuyết phục, tả cảnh đẹp vô cùng tỉ mỉ nhưng lại nhuốm màu u ám, mang tính dự báo. Giọng điệu gần như khách quan nhưng cũng rất khéo léo thể hiện thái độ đó là sự lên án bọn vua quan qua thủ pháp liệt kê.

    6, Hoàng Lê nhất thống chí (nhóm tác giả Ngô Gia Văn Phái)

    - Ngô Gia Văn Phái: Một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du

    - Hoàng Lê nhất thống chí là một tác phẩm viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.

    - Cuốn tiểu thuyết bao gồm 17 hồi

    - Xuất xứ: Đoạn trích trong SGK là hồi thứ 14 của cuốn tiểu thuyết này

    - Giá trị nội dung: Các tác giả đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống, qua đó làm nổi bật Hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung: Một người hành động mạnh mẽ, quyết đoán; có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén; có tầm nhìn xa trông rộng và tài thao lược hơn người

    - Giá trị nghệ thuật: Tác phẩm nổi bật là một tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán với cách kể chuyện nhanh gọn, chọn lọc sự kiện, khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động, lời nói, kể chuyện xen miêu tả sinh động và cụ thể, gây ấn tượng mạnh

    7, Đoạn trích: Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều) - Nguyễn Du

    Xuất xứ: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của phần một: Gặp gỡ và đính ước

    - Giá trị nội dung: Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của hai chị em Thúy Kiều. Nếu Thúy Vân "trang trọng" gợi vẻ cao sang, quý phái thì Thúy Kiều có tài sắc vẹn toàn. Tác giả còn dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du.

    - Giá trị nghệ thuật: Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là nghệ thuật khắc họa nhân vật lí tưởng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng – lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người, sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều

    8, Đoạn trích: Cảnh ngày xuân (trích Truyện kiều) –Nguyễn Du

    - Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm nằm ở phần 1- Gặp gỡ và đính ước, sau đoạn Nguyễn Du miêu tả tài sắc của hai chị em Thúy Kiều, trước đoạn Kiều gặp mộ Đạm Tiên và Kim Trọng

    - Giá trị nội dung: Đoạn trích đã khắc họa rõ nét khung cảnh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, náo nhiệt. Tràn đầy sức sống trong cuộc du xuân của hai chị em Thúy Kiều vào tiết thanh minh.

    - Giá trị nghệ thuật: Sử dụng bút pháp tả cảnh thiên nhiên bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu chất tạo hình, đắt giá, sáng tạo, nhiều từ láy, bút pháp tả cảnh ngụ tình

    9, Đoạn trích: Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện kiều)

    - Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc. Tú Bà giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện và tàn bạo hơn.

    - Giá trị nội dung: Đoạn trích đã miêu tả ức họa về hoàn cảnh, không gian nơi Thúy Kiều bị giam lỏng là lầu Ngưng Bích. Qua đó khắc họa chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều và dự cảm tương lai đầy gian truân, sóng gió của nàng.

    - Giá trị nghệ thuật: Thể thơ lục bát cổ truyền, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế kết hợp điệp ngữ "buồn trông"; nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc với bút pháp tả cảnh ngụ tình.

    10, Đoạn trích: Mã Giám Sinh mua Kiều (trích Truyện Kiều)

    11, Đoạn trích: Thúy Kiều báo ân báo oán (trích Truyện Kiều)

    12, Đoạn trích: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên)

    - Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) tục gọi là Đồ Chiểu. Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc, ông đã để lại nhiều áng văn chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lí làm người, lòng yêu nước và ý chí cứu nước.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Truyện Lục Vân Tiên là một truyện thơ nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, truyện có 2082 câu thơ lục bát.

    - Xuất xứ: Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện

    - Giá trị nội dung: Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật trung tâm: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na ân tình.

    Qua đó thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả Nguyễn Đình Chiểu.

    - Giá trị nghệ thuật: Đoạn trích thành công với thể thơ lục bát dân tộc, nghệ thuật kể chuyện, miêu tả rất giản dị, mộc mạc, giàu màu sắc Nam Bộ

    13, Đoạn trích: Lục Vân Tiên gặp nạn (trích Truyện Lục Vân Tiên)

    14. Bài thơ Đồng chí (Chính Hữu)

    - Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

    - Phong cách sáng tác: Những bài thơ mang đậm dấu ấn cá nhân với cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng lại vừa sâu lắng, hàm xúc, phong cách bình dị.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (năm 1947).

    - Giá trị nội dung: Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu. Cơ sở của tình đồng chí là tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó. Tình đồng chí là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương; cùng chia sẻ với nhau những gian lao thiếu thốn trong đời lính. Biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí là tôi luyện trong thử thách, gian lao, đứng cạnh bên nhau vững chãi cầm súng chiến đấu là bảo vệ cho cuộc sống thanh bình nơi quê hương.

    Qua đó hiện lên hình tượng chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    - Giá trị nghệ thuật: Thể thơ thể thơ tự do, ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chân thực, các chi tiết, hình ảnh được sử dụng mang tính tiêu biểu, chân thực, ngôn ngữ cô đọng, giản dị và giàu sức biểu cảm.

    15. Bài thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)

    - Phong cách sáng tác: Giọng điệu rất sôi nổi của tuổi trẻ vừa có cả sự ngang tàn tinh nghịch nhưng lại vô cùng sâu sắc.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ sáng tác năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt. Bài thơ thuộc chùm thơ được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969, in trong tập "Vầng trăng quầng lửa"

    - Giá trị nội dung: Bài thơ khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không kính qua đó làm nổi bật hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt. Họ ung dung hiên ngang, dũng cảm lạc quan có tinh thần đồng chí đồng đội và một ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam.

    - Giá trị nghệ thuật: Kết hợp thể thơ bảy chữ và tám chữ một cách tự nhiên; chất liệu hiện thực vô cùng sinh động của chiến trường, những hình ảnh sáng tạo rất đời thường. Ngôn ngữ và giọng điệu thơ giàu tính khẩu ngữ, ngang tàn và khỏe khoắn

    - Giá trị nội dung: Bài thơ khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không kính với tư thế thế ung dung hiên ngang của người lính; tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và lạc quan, sôi nổi; tình đồng chí đồng đội thắm thiết; lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam

    Qua đó làm nổi bật hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, họ hiên ngang, dũng cảm lạc quan, ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam.

    - Giá trị nghệ thuật: Bài thơ kết hợp thể thơ bảy chữ và tám chữ một cách tự nhiên; ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn, chất liệu hiện thực vô cùng sinh động của chiến trường, những hình ảnh sáng tạo rất đời thường. Ngôn ngữ và giọng điệu thơ giàu tính khẩu ngữ, ngang tàn và khỏe khoắn.

    16, Bài thơ: Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận)

    - Huy Cận đã nổi tiếng trong phong trào thơ mới với thơ "Lửa thiêng".

    - Hoàn cảnh sáng tác: Giữa năm 1958, Huy Cận có một chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế ấy, hồn thơ Huy Cận thực sự nảy nở dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước. Bài thơ được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập "Trời mỗi ngày lại sáng"

    - Giá trị nội dung: Bài thơ ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước. Khi vũ trụ bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu ra khơi đánh cá với khí thế phơi phới và niềm vui đang chinh phục biển khơi; người dân chài có tư thế hiên ngang, làn da nhuộm nắng gió, nhuộm cả vị mặn mòi của biển cả. Đoàn thuyền lướt sóng trở về trong khúc khải hoàn như đua cùng thời gian để nhanh chóng trở về bến cảng.

    "Đoàn thuyền đánh cá" là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động làm chủ biển khơi làm chủ cuộc đời

    - Giá trị nghệ thuật: Hình ảnh thơ đẹp, bút pháp lãng mạn xen hiện thực; có sự sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh thơ bằng liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú. Âm hưởng thơ khỏe khoắn hào hùng và sáng tạo.

    17. Bài thơ: Bếp lửa (Bằng Việt)

    18. Bài thơ: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ

    19. Bài thơ: Ánh trăng (Nguyễn Duy)

    - Phong cách sáng tác: Thơ Nguyễn Duy giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt và suy tư.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ viết vào năm 1978, 3 năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, được nhà thơ viết tại Thành phố Hồ Chí Minh. In trong tập "Ánh trăng".

    - Giá trị nội dung: "Ánh trăng" là lời ân hận trong tâm sự sâu thẳm của nhà thơ về sự vô tình trước những kỉ niệm thời quá khứ. Khi đất nước có chiến tranh, ở rừng, vần trăng thành tri kỉ của người lính; nhưng khi thời bình, ở thành phố, vầng trăng thành người dưng. Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống "Uống nước nhớ nguồn", thủy chung ân tình.

    Bài thơ chứa đựng một ý nghĩa triết lí sống "Uống nước nhớ nguồn"

    - Giá trị nghệ thuật: Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ bố cục rõ ràng, mạch lạc. "Ánh trăng" có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự, hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động, giàu tính biểu cảm, giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình.

    20. Truyện ngắn: Làng (Kim Lân)

    - Phong cách sáng tác: Ông hay viết về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn "Làng" viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    - Giá trị nội dung: Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra. Ở nơi tản cư, ông Hai đau đáu nhớ về quê hương, nhớ làng; ông yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến. Nêu khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ, bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã; cay đăng, tủi nhục, uất hận. Nhưng khi nghe tin cải chính, ông vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai.

    21. Đoạn trích: Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long)

    - Phong cách sáng tác: Ông là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn và kí. Đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo ra những hình tượng đẹp đẽ, ngôn ngữ rất giàu chất thơ trong trẻo và nhẹ nhàng.

    - Phong cách sáng tác: Ông là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn và kí, ông là luôn tạo ra những hình tượng đẹp đẽ, ngôn ngữ rất giàu chất thơ trong trẻo và nhẹ nhàng.

    - Hoàn cảnh sáng tác: Lặng lẽ Sa Pa được viết năm 1970, trong chuyến đi thực tế của tác giả Nguyễn Thành Long, in trong tập "Giữa trong xanh".

    - Giá trị nội dung: Truyện ngắn khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động thầm lặng công hiến cho đời mà tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh núi cao. Nơi ở của anh giản dị nhưng ngăn nắp, gọn gàng; anh yêu công việc, có tinh thần trách nhiệm cao; anh khiêm nhường, quý trọng những người lao động; anh tin yêu cuộc sống. Qua đó ngợi ca vẻ đẹp của người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng nhưng quan trọng vô cùng.

    Tác phẩm chứa đựng những giá trị sâu sắc về sự cống hiến thầm lặng trước cuộc đời thông qua vẻ đẹp của các nhân vật trong tác phẩm.

    - Giá trị nghệ thuật: Xây dựng tình huống ấn tượng, miêu tả nhân vật từ nhiều điểm nhìn tạo tính khách quan, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình.

    22. Đoạn trích: Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)

    - Phong cách sáng tác: Các sáng tác của ông thường là về cuộc sống và con người Nam Bộ, cốt truyện và tình huống hết sức đặc sắc và giàu kịch tính.

    - Hoàn cảnh sáng tác: "Chiếc lược ngà" viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên

    - Giá trị nội dung: Truyện ngắn nói về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cha con sâu nặng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh éo le. Ông Sáu và bé Thu phải sống trong hoàn cảnh chia li bởi chiến tranh. Lúc còn ở rừng, ông Sáu nhớ thương con vô cùng, khao khát gặp con; trong ba ngày ngày nghỉ phép, ông Sáu khao khát tình cảm của con. Thái độ ương nhạnh ngang bướng của bé Thu đối với ông Sáu lại là biểu hiện tuyệt vời của tình phụ tử. Tình cảm ấy là cội nguồn, sức mạnh vượt lên sự hủy diệt tàn bạo của chiến tranh.

    - Giá trị nghệ thuật: Truyện kể theo điểm nhìn của bác Ba giúp tăng tính khách quan. Truyện thành công trong việc tạo dựng tình huống bất ngờ, tự nhiên và hợp lí, thành công nữa là miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc qua suy nghĩ, hành động và lời nói.

    23. Truyện ngắn: Cố hương (Lỗ Tấn)

    - Hoàn cảnh sáng tác: Cố hương là một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất của tập Gào thét (1923)

    - Giá trị nội dung: Truyện ngắn phản ánh tình cảnh sa sút về mọi mặt của xã hội Trung Quốc đầu thế kỉ XX, và hi vọng của tác giả trên cơ sở tình yêu quê hương và nhân dân. Đồng thời đặt ra vấn đề đường đi của người nông dân, của toàn xã hội để mọi người suy ngẫm.

    - Giá trị nghệ thuật: Bố cục chặt chẽ, cách sử dụng sinh động những thủ pháp nghệ thuật: Hồi ức, hiện tại, đối chiếu, đầu cuối tương ứng. Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Kết hợp tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận. Sáng tạo hình ảnh biểu tượng giàu ý nghĩa triết lý.

    24. Đoạn trích: Những đứa trẻ (Mác-xim Go-rơ-ki)

    - Hoàn cảnh sáng tác: Thời thơ ấu là tiểu thuyết đầu tiên trong ba tiểu thuyết tự thuật của Go-rơ-ki được sáng tác vào năm 1913-1914, tiểu thuyết gồm 13 chương

    - Văn bản Những đứa trẻ trích ở chương 9 của tác phẩm này

    - Giá trị nội dung: Đoạn trích kể lại tình bạn thân thiết giữa Aliosa và ba đứa trẻ hàng xóm con ông đại tá sống thiếu tình thương, bất chấp sự cách biệt và cản trở của địa vị xã hội; một tình bạn trong sáng hồn nhiên mà không gì có thể phá vỡ được.

    - Giá trị nghệ thuật: Đoạn trích thành công bởi cách kể chuyện nhẹ nhàng giàu hình ảnh, có sự đan xen giữa chuyện đời thường và truyện cổ tích; tạo dựng tình huống thắt nút và cởi nút câu chuyện rất tự nhiên và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật qua hành động suy nghĩ và lời nói.

    Trên đây là tổng hợp kiến thức cơ bản Ngữ văn 9, kì I;

    Bài viết sẽ tiếp tục Tổng hợp kiến thức Cơ bản, Trọng tâm - Môn Ngữ văn 9, kì II, mời các em đón đọc!
     
  2. Đang tải...
Trả lời qua Facebook
Đang tải...