Làm sáng tỏ ý kiến của nhà thơ bằng việt: Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc

Thảo luận trong 'Học Online' bắt đầu bởi Freud_2512, 1 Tháng tư 2020.

  1. Freud_2512 Load... Chuyển tiền

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    7
    Nhà thơ Bằng Việt cho rằng: "Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc".

    Từ tác phẩm "Vội vàng" của Xuân Diệu anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

    Tham khảo:

    1. Giải thích:

    - "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu". (Theo "Từ điển thuật ngữ văn học")

    – Tiêu chuẩn: Thước đo, chuẩn mực đánh giá một đối tượng. Có nhiều loại tiêu chuẩn khác nhau và tiêu chuẩn có thể thay đổi theo thời gian.

    -Tiêu chuẩn vĩnh cửu: thước đo, chuẩn mực có giá trị bất biến, đúng với mọi thời đại.

    Cảm xúc: Những cung bậc tình cảm, tâm trạng con người.

    => Ý kiến của Bằng Việt khẳng định: Thước đo để đánh giá giá trị tác phẩm thơ ca ở mọi thời đại là cảm xúc .

    2. Cơ sở lí luận: Cách đánh giá giá trị tác phẩm văn chương thường thay đổi theo thời đại và thế giới quan người đọc. Nhà thơ Bằng Việt nêu lên tiêu chuẩn không thay đổi để xác định giá trị tác phẩm thơ chân chính là cảm xúc. Điều đó hoàn toàn đúng vì:


    - Xuất phát từ đặc trưng thơ ca:

    +Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, những rung động và trăn trở day dứt của thi nhân trước cảnh huống cụ thể sinh động của con người, cuộc sống, nhưng đó phải là những tình cảm, cảm xúc đã đạt đến độ mãnh liệt nhất, thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút sáng tác. Lacmactin đã từng tâm sự "Thế nào là thơ? Nó không chỉ là một nghệ thuật, nó là sự giải thoát của lòng tôi" . Thiếu đi rung động, cảm xúc, trăn trở.. thì thơ ca không thể sinh thành, cất cánh, có giá trị và nếu vẫn viết thì bài thơ đó sẽ chỉ là những câu chữ vô hồn, những "xác chữ" thẳng đơ trên trang giấy. Khi Lê Quý Đôn khẳng định: "Thơ khởi phát từ lòng người" là muốn nhấn mạnh: Tình cảm sẽ quyết định sự sinh thành của thơ. Cùng quan điểm này, Nguyễn Đình Thi cũng cho rằng: "Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống". Khi Ngô Thì Nhậm mong muốn: "Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần" và Xuân Diệu quan niệm: "thơ hay lời thơ chín đỏ trong cảm xúc", là khẳng định tình cảm sẽ quyết định đến chất lượng, đến giá trị của thơ.. Ngay chính Chế Lan Viên trong"Tiếng hát con tàu" cũng đã thấm thía: "Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép". Như vậy có tình cảm, cảm xúc mãnh liệt thì mới có thơ ca, nên muốn đánh giá một tác phẩm thơ hay hay không hay phải căn cứ vào yếu tố đầu tiên đó là cảm xúc của nhà thơ.

    + Cảm xúc trong thơ bao giờ cũng phải liền với hiện thực đời sống bởi thơ ca cũng như những loại hình nghệ thuật khác có chức năng phản ánh cuộc sống. Nếu trong văn xuôi đấy là một hiện thực cuộc sống bộn bề với những mảng màu sáng tối, với những tình tiết, chi tiết, nhân vật.. thì trong thơ, hiện thực đó đã được chắt lọc thành cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ. "Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim" (Đuy-Blây), nên bên cạnh việc phản ánh hiện thực, thơ ca còn phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của thi sĩ. "Đọc một câu thơ hay nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn một con người" (Atona Phrăng xơ). Và "Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm" (Vôn -te)

    - Mặt khác, xuất phát từ quy luật tiếp nhận văn học, trong đó có thơ ca: Người đọc tìm đến thơ là tìm đến thế giới đồng điệu, đồng cảm như Tố Hữu đã khẳng định: "Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu.. Thơ là tiếng nói đồng ý và đồng tình, tiếng nói đồng chí". Mỗi thi nhân diễn tả những rung cảm của mình qua hình thức biểu hiện không giống nhau. Từ trải nghiệm và sự xúc động của mình, mỗi nhà thơ đều muốn giãi bày, chia sẻ, gửi gắm tới độc giả. Sự gặp gỡ giữa người đọc và người làm thơ qua câu chữ sẽ khơi lên sự đồng cảm sâu sắc, mãnh liệt vượt thời gian để thi phẩm đó có sức sống lâu bền.

    =>Vội vàng của Xuân Diệu vượt lên quy luật băng hoại của thời gian được nhiều thế hệ người đọc yêu thích chính là ở cảm xúc nồng nhiệt chân thành của thi sĩ.

    3. Phân tích, chứng minh:

    * Vài nét khái quát về tác giả, tác phẩm:

    - Xuân Diệu "Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", một hồn thơ "thiết tha, rạo rực, băn khoăn", "Khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn tha thiết" (Hoài Thanh, Hoài Chân- Thi nhân Việt nam)

    - Vội vàng là một thi phẩm tiêu biểu của ông, in trong tập "Thơ thơ" (1938), tập thơ đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới.

    - Bài thơ thể hiện tình yêu cuộc sống nồng nhiệt tha thiết của Xuân Diệu, là lời giục giã sống mãnh liệt, hết mình cùng 1 quan niệm mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc của nhà thơ.

    - Ngay từ nhan đề bài thơ đã chứa đựng một tâm thế sống, một triết lí sống mới mẻ của Xuân Diệu- con người luôn

    "say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt" (Hoài Thanh). Đúng là nhan đề đó là một lời tự bạch, tự họa của thi nhân về tâm thế sống vội vàng, cuống quýt, một triết lý sống mãnh liệt, hết mình, biết quý trọng từng giây phút của đời người và tuổi trẻ vì nó rất hữu hạn, ngắn ngủi.

    - Cả bài thơ là dòng chảy cảm xúc chân thành với đủ mọi cung bậc của Xuân Diệu: Có mãnh liệt, bồng bột, sôi nổi, đắm say; có băn khoăn, ngậm ngùi, nuối tiếc; có vội vàng, cuống quýt, ham hố đến cuồng si.

    * Phân tích, chứng minh.

    a. Vội vàng là một bài thơ hay bởi cảm xúc chân thành, mãnh liệt của Xuân Diệu . (Xem lại đề 1)

    - Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết của nhà thơ.

    + Bốn câu thơ đầu: Ước muốn kì lạ, táo bạo của thi nhân:

    + Bảy câu thơ tiếp: Vẻ đẹp mùa xuân- thiên đường nơi mặt đất

    + Hai câu cuối: Tâm trạng của nhà thơ


    - Nỗi băn khoăn, tiếc nuối của nhà thơ về sự ngắn ngủi của đời người trước sự trôi đi nhanh chóng của thời gian.

    - Lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt của nhà thơ

    b. Cảm xúc của Xuân Diệu được diễn tả thành công qua sức mạnh của hình thức nghệ thuật:

    - Thể thơ: Tự do, có những câu thơ năm chữ, câu thơ mười chữ, thậm chí chỉ có ba chữ nhưng chủ yếu là những câu thơ tám chữ với nhịp ngắt rất linh hoạt:

    + Nhịp 2/3 ở những câu thơ ngũ ngôn đã tạo nên một giọng bộc bạch rất nồng nàn, tha thiết.

    + Những câu thơ tám chữ được ngắt nhịp phổ biến 3/3/2(Này đây lá/của cành tơ/phơ phất) rồi đảo nhanh sang 3/2/3(Của yến anh/này đây/khúc tình si). Có lúc câu thơ tám tiếng bỗng chuyển thành mười tiếng với nhịp giãn rộng 5/5 (Cho chếnh choáng mùi thơm/cho đã đày ánh sáng ) tựa như những cú đảo phách trong âm nhạc.

    - >Tất cả khiến cho nhịp điệu của bài thơ cứ sôi nổi, bồng bột, chuyển tải được một điệu tâm hồn sôi nổi, say mê.

    - Sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc và mạch triết luận:

    + Mạch triết luận biểu hiện ở cách Xuân Diệu sắp xếp các ý thơ để lí giải vì sao phải sống "Vội vàng". Nhà thơ đã lập luận thật chặt chẽ: Vì cuộc sống thật đẹp, thật đáng sống (đoạn một) trong khi đó thời gian của đời người, nhất là tuổi trẻ lại quá ngắn ngủi, hữu hạn (đoạn hai) cho nên chỉ còn một cách là phải sống vội vàng, gấp gáp để tận hưởng được cuộc sống này (đoạn ba). Cách lập luận ở đây đi từ việc soi chiếu các mặt khác nhau của vấn đề, khám phá những nghịch lý của đời sống để biến những lí lẽ ấy thành cơ sở lí luận, là nền tảng cho tính thuyết phục của lời kêu gọi ở cuối bài thơ, cũng là kết luận đầy tích cực, giàu tính nhân văn của tác giả.

    +Mạch triết luận đã dẫn tới cách sử dụng ngôn ngữ thơ có tính chất triết luận. Đó là một loạt các từ ngữ có tính chất lập luận: "nghĩa là", "nhưng", "nói làm chi.. nếu", "nhưng.. nên" . Trong thơ cổ, những từ ngữ này khá kị, vì chúng vốn là những từ ngữ biểu thị ý nghĩa quan hệ logic, khô khan, không phù hợp với nhạc tính uyển chuyển giàu sức gợi của thơ ca. Ở đây Xuân Diệu đã rất khéo léo sắp đặt những từ ngữ này phối thanh hài hòa trong từng câu thơ, và rất hợp lý trong các phép điệp, nên tuy chúng là từ ngữ lập luận nhưng không hề phá vỡ chỉnh thể của bài thơ, nhạc tính của bài thơ vẫn hài hòa, uyển chuyển, có sức lay động lòng người.

    +Sự biến đổi đại từ xưng hô từ điệp cấu trúc "Tôi muốn.." ở lời đề từ đến điệp cấu trúc "Ta muốn.." ở khổ thơ cuối cũng có dụng ý làm tăng tính thuyết phục của mạch triết luận. Nếu ở bốn câu đầu, cảm xúc vẫn còn là của một cá nhân, mang đậm dấu ấn cái tôi, thì đến cuối ở lời kêu gọi, cái "tôi" đã chuyển thành cái "ta", hướng về số đông, hướng về người tiếp nhận. Người đọc cảm thấy có một phần của mình trong lời kêu gọi của tác giả, chính vì vậy lời kêu gọi ở cuối tác phẩm càng trở nên thuyết phục, dễ tiếp nhận hơn.

    +Nhưng mạch chính của tác phẩm vẫn là mạch trữ tình, bởi nguồn cội của thơ chính là cảm xúc . Xuyên suốt từng bước lập luận, Xuân Diệu đã bày tỏ những cảm xúc từ tận trái tim mình: Niềm say mê vẻ đẹp đầy xuân thì, xuân sắc của cuộc sống trần gian (đoạn một) ;nỗi băn khoăn tiếc nuối trước sự trôi chảy của thời gian và sự ngắn ngủi của đời người (đoạn hai) để rồi đến đoạn ba bùng lên thành lời giục giã sống vội vàng đầy ham hố, cuồng si.

    ð - Như vậy, xuyên suốt bài thơ, mạch triết luận và mạch trữ tình luôn giao hòa cùng nhau, sóng đôi bên nhau. Mạch triết luận nổi lên trên bề mặt văn bản, gắn với bố cục bài thơ. Mạch trữ tình chìm xuống dưới, trở thành bề sâu của nội dung tư tưởng. Sự kết hợp này tạo một hiệu quả tích cực trong việc truyền tải tư tưởng chủ đề của tác phẩm: Vừa tác động vào lý trí, vừa tác động vào tình cảm, vừa trực tiếp tác động vào trí óc, nhưng lại cũng vừa thông qua con đường từ trí óc đến trái tim. Xuân Diệu đã dùng chính trái tim mình, dùng chính khối cảm xúc rạo rực tha thiết với cuộc đời của mình để làm minh chứng rõ nhất cho lẽ sống "Vội vàng". Và cũng chính lẽ sống đó đã làm cho cảm xúc của Xuân Diệu trở thành những cảm xúc có tính chất khái quát, là tâm sự riêng tư nồng nàn của cá nhân, nhưng cũng là cảm xúc của bao người.

    - Kết cấu triết luận – trữ tình có thể được xem là một yếu tố lạ thể hiện đậm tính sáng tạo của Xuân Diệu . Quan niệm thơ truyền thống xem thơ đơn thuần là trữ tình. Thơ cũ cho dù "thi dĩ ngôn chí" thì vì tính chất quy phạm của thi pháp trung đại, cũng không thể sử dụng các từ ngữ có tính chất lập luận, mang tính duy lý, logic như Xuân Diệu sử dụng. Trong Thơ mới, phong trào thơ coi trọng cái tôi và cảm xúc cá nhân, thì tất nhiên yếu tố trữ tình, cảm xúc cũng được đưa lên hàng đầu. Chính vì vậy "Vội vàng" của Xuân Diệu là một tác phẩm đầy mới mẻ, là sự kết hợp hài hòa của lý trí tỉnh táo và cảm xúc mãnh liệt, của lập luận và biểu cảm, của trái tim và khối óc, mà tất cả có điểm chung là đều hướng về cuộc sống với tất cả những gì yêu thương nhất, đắm say nhất, tha thiết nhất của thi sĩ.

    - Hình ảnh thơ: Gần gũi quen thuộc mà vẫn mới mẻ, độc đáo, tràn đầy cảm xúc, cảm giác

    + Quen thuộc vì đấy là hình ảnh ta vẫn thấy trong cuộc sống xung quanh: Ong bướm, hoa lá, tiếng chim..

    + Mới mẻ, độc đáo, hấp dẫn vì những hình ảnh đó được nhìn qua cặp mắt xanh non, qua cái nhìn tình tứ cùng tâm hồn trẻ trung đầy cảm xúc của Xuân Diệu: "Tháng giêng.. môi gần", "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"


    - Giọng điệu linh hoạt theo dòng tâm trạng và cảm xúc:

    + Đoạn 1: Giọng nồng nàn, sôi nổi, say mê

    + Đoạn 2: Giọng tranh luận biện bác và ngậm ngùi, tiếc nuối.

    +Đoạn 3: Giọng hối hả, vội vàng, gấp gáp, cuồng nhiệt, đắm say.

    - Ngôn ngữ thơ: Gần với lời nói thường ngày nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật. Cách dùng từ của XD rất táo bạo. Đặc biệt ở đoạn cuối, cảm xúc dạt dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ vừa đan vào nhau vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến càng lúc càng dâng lên cao trào. Tác giả dùng dồn dập những động từ mạnh theo chiều tăng tiến: Ôm- riết-say-thâu-cắn ; Hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, động từ chỉ trạng thái đắm say, danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tình tứ, quyến rũ: bắt đầu mơn mởn, chếnh choáng mùi thơm, đã đầy ánh sáng, no nê thanh sắc, xuân hồng..

    Tất cả những phương diện ngôn từ ấy đều được dùng thuần thục, tinh vi, chuyển tải được nhuần nhuyễn những tình ý mãnh liệt và táo bạo của cái tôi thi sĩ, chứng tỏ Xuân Diệu ngay từ khi còn trẻ đã thực sự là một bậc thầy về tiếng Việt.

    - Biện pháp tu từ: được sử dụng rất đa dạng và hiệu quả:

    + Phép điệp được sử dụng triệt để gồm cả điệp từ, điệp ngữ, điệp cú ( Lặp cấu trúc cú pháp). Thủ pháp này lại được dùng rất linh hoạt, biến hóa khiến cho mạch thơ tuôn chảy rất tự nhiên. Có khi là điệp lại kiểu câu bộc bạch ước muốn: Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi .

    Có khi là điệp từ: Tôi, Ta, muốn, của, cho, và.. . Lúc lại là điệp ngữ: Tôi muốn, Ta muốn, này đây..

    + Phép điệp thường kết hợp, hòa điệu với phép liệt kê, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhân hóa.. một cách rất ăn ý, nhuần nhuyễn khiến cho bài thơ rất giàu nhạc tính. Tất cả nhằm làm toát lên được giọng điệu cuống quýt, vội vàng rất điển hình của Xuân Diệu.


    4. Nhận xét, đánh giá:

    - Quan niệm của Bằng Việt: "Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc" hoàn toàn đúng đắn với đặc trưng của thơ ca và quy luật tiếp nhận văn học. Tuy nhiên, Bằng Việt để cao cảm xúc chứ không tuyệt đối hóa cảm xúc, coi nhẹ vai trò tài năng người cầm bút. Cần kết hợp tài năng và cảm xúc mới có tác phẩm thành công.

    - Quan niệm trên rất giàu ý nghĩa:

    + Đối với người sáng tác: Cần phải gắn bó với cuộc đời, với con người, nuôi dưỡng cảm xúc, trau dồi tài năng để tạo nên những bài thơ có giá trị, có sức hấp dẫn với độc giả.

    + Đối với người đọc: Đến với một tác phẩm thơ cũng cần có cảm xúc để đồng điệu, đồng sáng tạo với tác giả, biết trân trọng cảm xúc và tài năng của nhà thơ kết tinh trong câu chữ, góp phần làm đẹp cho đời.
     
    Admin, Hoàng Bách NamKiều Ly thích bài này.
  2. Đang tải...
Trả lời qua Facebook
Đang tải...