Đề thi cuối học kì II môn Ngữ Văn lớp 10 tỉnh Bắc Ninh - có đáp án

Thảo luận trong 'Học Online' bắt đầu bởi Ánh Phượng Thiên, 6 Tháng năm 2021.

  1. Ánh Phượng Thiên Chuyển tiền

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    172
    ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ II

    NĂM HỌC 2020-2021

    MÔN: NGỮ VĂN LỚP 10

    TỈNH BẮC NINH

    I. ĐỌC HIỂU (3, 0 điểm)

    Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu:


    Người lên ngựa, kẻ chia bào,

    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san (1).

    Dặm hồng bụi cuốn chinh an (2),

    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

    Người về chiếc bóng năm canh,

    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

    Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

    (Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du,

    NXB Văn hóa thông tin, 2002, tr. 142-143)

    Chú thích:

    (1) Màu quan san: Vẻ xa xôi cách trở

    (2) Chinh an: Việc đi đường xa

    Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

    Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ trên.

    Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp được sử dụng trong đoạn trích.

    Câu 4. Anh/Chị hãy nhận xét về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong hai câu sau:


    Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

    II. LÀM VĂN (7, 0 điểm)

    Anh/ Chị hãy thuyết minh đoạn trích sau:


    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

    Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

    Ngoài rèm thác chẳng mách tin,

    Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

    Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thooi.

    Buồn rầu nói chẳng nên lời,

    Hoa đèn kia với bóng người đã thương.

    Gà eo óc gáy sương năm trống,

    Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.

    Khắc giờ đằng đẵng như niên,

    Mối sầu dằng dặng tựa miền biển xa.

    Hương gượng đốt hồn đà mê mải,

    Gương gượng soi lệ lại châu chan.

    Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,

    Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.

    (Trích Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm,

    Ngữ Văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 87)

    ~~~~~~~

    ĐÁP ÁN:

    I. ĐỌC HIỂU

    1. Thể thơ: Lục bát.

    2. Những hình ảnh thiên nhiên được miên tả trong đoạn thơ: Rừng phong, dặm hồng, bụi phấn, ngàn dâu, vầng trăng.

    (Trả lời đúng hai hình ảnh đạt điểm tối đa)

    3. -Điệp từ: Người, kẻ.

    - Tác dụng của phép điệp ngữ:

    + Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.

    + Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.

    4. Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:

    - Nỗi buồn li biệt và sự nhớ nhung dành cho Thúc Sinh.

    - Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.

    II LÀM VĂN

    Thuyết minh đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm)

    * Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích:

    - Đặng Trần Côn (? -) sống vào khoảng đầu thế kỉ XVIII. Ông cảm động trước nỗi khổ đau, mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm.

    - Dịch giả Đoàn Thị Điểm (1705-1748) là người nổi tiếng thông minh, có tài văn chương.

    - Chinh phụ ngâm là khúc ngâm nổi tiếng nhất về tình cảnh của người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không rõ tin tức, không rõ ngày trở về.

    * Thuyết minh về nội dung đoạn trích:

    - Tám câu đầu: Nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ.

    + Nỗi cô đơn thể hiện qua hình động lặp đi lặp lại nhàm chán, vô vị, một mình "Dạo hiên vắng' buông, cuốn rèm nhiều lần: Gửi gắm niềm tin hy vọng vào tiếng chim thước mang tin vào nhưng thực tế tin tức của người chồng vẫn vô vọng" Ngoài rèm thước chẳng mách tin. "

    - Tám câu sau: Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ.

    + Nỗi sầu muộn được thể hiện qua cảm nhận về thời gian tâm lí. Người chinh phụ như đếm từng bước thời gian nặng nề trôi mà cảm nhận một khắc" đằng đẵng như một niên".

    + Để giải tỏa nỗi sầu, người chinh phụ đã tìm đến những thứ vui như: Soi gương, đốt hương, gảy đàn, nhưng tất cả chỉ là sự miễn cưỡng, chán chường, gượng đốt, gượng soi, gượng gảy.. Vì thế, mối sầu chẳng những được giải tỏa mà càng nặng nề thêm.

    * Thuyết minh về nghệ thuật đoạn trích.

    - Bút pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả nội tâm nhân vật.

    - Giọng điệu trữ tình bi thương.

    - Thể thơ song thất lục bát phù hợp với việc diễn tả tâm trạng sầu thương của nhân vật trữ tình.

    - Ngôn từ chọn lọc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ..

    * Thuyết minh về ý nghĩa đoạn trích

    Đoạn trích đã thể hiện được nỗi cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ trong tình cảnh chia lìa, đề cao hạnh phúc lứa đôi và tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến, đòi quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi.


    <3 <3 <3
     
    Chỉnh sửa cuối: 8 Tháng năm 2021
  2. Đang tải...
Trả lời qua Facebook
Đang tải...