Full Hữu Phỉ - Priest

Thảo luận trong 'Kiếm Hiệp' bắt đầu bởi Lục Thất Tiểu Muội, 27/8/2019.

  1. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 160: Chấn động​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Tạ Doãn nghe báo, liền đặt quyển sách tiêu khiển trên đầu sang một bên, ra ngoài làm lễ gặp mặt theo những lễ nghi phiền phức mà dường như hắn đã quen từ thuở lọt lòng.

    Triệu Uyên mang theo một đám người thanh thế to lớn tới, chưa chờ Tạ Doãn vái xong đã vội vàng đích thân dìu hắn dậy, cười nói:

    – Ở chỗ tiểu thúc chính là về nhà, về nhà làm gì phức tạp thế?

    Triệu Uyên mặc thường phục, dáng cao gầy, mặt như dao khắc, người đã quá tuổi trung niên nhưng mặt không hề hiện ra dấu vết tuổi tác, mi mắt ông vô cùng dày, thường xuyên phủ bóng râm lên con ngươi, làm tôn lên ánh mắt hơi trầm của ông, lúc ông nhìn người khác sẽ vô cớ khiến người ta căng thẳng. Nhưng lúc ông cười lại lộ vẻ vô cùng nho nhã thân thiết, hoàn toàn không còn vẻ kiêu ngạo cao cao tại thượng của bậc cửu ngũ chí tôn.

    Triệu Uyên đưa tay kéo Tạ Doãn, đồng thời không kiêng kỵ hàn khí Thấu Cốt Thanh ngày càng dày đặc trên người hắn, nhưng Tạ Doãn thấy đầu ngón tay quen sống trong nhung lụa của hoàng thượng bị đông đến trắng bệch, hắn khéo léo tránh ra, cười không để bụng:

    – Lễ không thể bỏ.

    Triệu Uyên thấy vậy, dùng mu bàn tay áp lên trán hắn, vô cùng lo lắng thở dài, đám thái y phía sau vội vã tiến lên vây quanh Tạ Doãn.

    Tạ Doãn phối hợp chìa cổ tay ra, nhưng cổ tay quý giá của Nam Đoan vương chỉ có một, không đủ chia, các thái y đành xếp hàng lần lượt từng người, có hỏi han, có quan sát, vô cùng bận bịu, hành hạ đủ một phen, lại cùng nhau cáo lỗi, tụ tập sang một bên hội chẩn y như thật. Lúc này đương nhiên phải tránh không để quý nhân nghe, nhưng tai Tạ Doãn quá thính, nghe rõ mồn một trận khẩu chiến của các thái y bên ngoài không sót một chữ, thực không nhịn được cười, làm như họ chữa được thật ấy.

    Tạ Doãn mới tới kinh, còn chưa kịp sờ cửa Đoan vương phủ, Triệu Uyên liền nôn nóng sai người đón hắn vào cung ở tạm, không biết là để thể hiện sự xem trọng và ân sủng, hay muốn xem rốt cuộc hắn có ngáp ngáp sắp ngủm như lời đồn hay không.

    Tiếc rằng trước khi xuất phát, Đồng Minh đại sư đã cho hắn uống vị thuốc thứ ba, cộng thêm truyền nhân Thôi Vân chưởng chính quy nội lực thâm hậu, lúc này trông cực kỳ có tinh thần, không biết Triệu Uyên nhìn có thất vọng lắm không.

    Tạ Doãn sống đến mức này, đã không quá để ý cách nhìn của người khác nữa, lúc được hồi quang phản chiếu, hắn cũng lười giả bộ như liễu rủ héo úa, thấy không có chuyện gì khác, hắn liền vừa nghe các thái y chí chóe, vừa qua quít đáp lời tán gẫu chuyện nhà mang hơi hướm chính trị của Triệu Uyên.

    Triệu Uyên rất biết dẫn dắt đề tài, lúc thì hỏi hắn những chuyện lý thú giang hồ, chuyện đơn giản thì Tạ Doãn sẽ thuận miệng trả lời, còn chuyện dài quá thì hắn lười lôi thôi dông dài, thoái thác nói mình ẩn cư Bồng Lai, không rõ lắm chuyện bên ngoài.

    Hai người như hai con hồ ly khoác lớp da người, một người nói, một người đáp qua loa, trông vô cùng hòa thuận vui vẻ.

    Chợt, Tạ Doãn vốn nhàm chán vô vị bỗng hơi cử động lỗ tai, chén trà đưa đến bên môi khựng lại, hàn ý trên người nhanh chóng bao phủ, làm mất đi hơi nóng hầm hập trên chén trà, một tiểu thái giám thấy vậy, vội hoảng hốt tiến lên thay trà.

    Tạ Doãn hơi nheo mắt, ngẩng đầu liếc mắt lên xà ngang.

    Triệu Uyên cười nói:

    – Năm xưa lúc con vừa hồi kinh chưa có phủ đệ riêng, chính là ở nơi này, ba năm trước nó được tân trang lại một lần nhưng đồ đạc vẫn không thay đổi, có cảm giác thân thiết không?

    Tạ Doãn cười, đón lấy chén trà mà tiểu thái giám mới thay, nhìn chằm chằm màu máu hiện lên ngắn ngủi trên đầu ngón tay mình, chợt cố ý vạch áo cho người xem lưng:

    – Đúng rồi, hoàng thúc, mấy năm nay con không ra khỏi Bồng Lai, tin tức ách tắc nên vẫn chưa biết, Minh Sâm xuất cung xây phủ à? Ở đâu thế ạ?

    Triệu Uyên hơi khựng lại.

    Tạ Doãn cười chân thành, không lộ chút sơ hở nào:

    – Lát nữa con đi thăm đệ ấy.

    – Minh Sâm ấy mà..

    Triệu Uyên thu hồi tầm mắt, bình tĩnh thổi bọt trên nước trà:

    – Rất chẳng ra sao, lớn đầu rồi chứ đâu có nhỏ, cả ngày nóng nảy bộp chộp, không làm chuyện đứng đắn gì hết, từ sáng đến tối chỉ muốn chạy bên ngoài, ta đang giam nó lại đọc sách. Lát nữa ta gọi nó vào, nếu con rảnh rỗi thì thay ta quản giáo nó là tốt nhất.

    Tạ Doãn liền nói:

    – Cũng phải, năm đó chuyện đệ ấy làm ở Vĩnh Châu đúng là chả ra sao, con cái đều là của nợ mà, hoàng thúc.

    Hắn nói liên tiếp hai câu có hàm ý, có thể nói là sỉ nhục, tuy Triệu Uyên vẫn duy trì được vẻ mặt nhưng không còn khí thế tán gẫu tiếp như ban nãy nữa.

    Hai người đều im lặng chốc lát, Triệu Uyên lúc này mới nhận ra ý Tạ Doãn là nói chuyện hoài phiền quá nên mới cố ý không giữ mồm giữ miệng, ngầm tiễn khách. Không phải ông không biết nghe lời đoán ý, chỉ là đã kế vị mấy chục năm, Triệu Uyên đã quen làm một hoàng đế, quen với việc dù người bên dưới có ý đồ riêng thì khi nói chuyện với ông cũng sẽ thận trọng dè dặt, hoảng hốt lo sợ, trông mong moi móc được gì đó từ miệng ông, chứ hiếm ai chê ông nói nhiều.

    Kiến Nguyên hoàng đế trầm mặc chốc lát rồi đứng dậy nói:

    – Nói chuyện với con cũng lâu, không còn sớm, tiểu thúc không quấy rầy con nghỉ ngơi nữa.

    Tạ Doãn uể oải đứng dậy cung kính đưa tiễn, ngay cả một câu tạ ơn dư thừa cũng không có.

    Triệu Uyên khoát tay, đi tới cửa mới như chợt nhớ ra điều gì, nói với Tạ Doãn bên cạnh đang vẻ mặt phiêu diêu:

    – Quân đội triều ta từng bước ép sát, đã gần đến cố đô, nghịch tặc Tào thị chỉ là châu chấu cuối thu, không đáng lo, mồng ba tháng sau là ngày gì, con nhớ chứ?

    – Ngày Tào thị ép vua thoái vị, ngày giỗ của tiên đế.

    Tạ Doãn đáp, không ngẩng đầu, sau đó cười:

    – Hoàng thúc chuyện phiếm với con hơn nửa ngày, có phải quên mất chính sự rồi không?

    Triệu Uyên lơ câu cay nghiệt này, chỉ nói:

    – Cũng là ngày giỗ của cha con. E bọn Chu khanh chưa chắc kịp đánh tới kinh thành, nhưng ta định vào ngày đó làm lễ tế, nếu liệt tổ liệt tông trên trời có thiêng, phù hộ quân ta khôi phục sơn hà, khiến nghịch tặc đền tội, thiên hạ bá tánh an ổn, lại có trăm năm thịnh thế.

    Tạ Doãn gật đầu nói:

    – Ừm, cũng tốt, tính ra cũng không còn mấy ngày, điệt nhi vẫn có thể tham gia, tránh chết sớm quá không kịp ngày.

    Khóe mắt Triệu Uyên khẽ giật, hồi lâu, ông nhỏ giọng:

    – Lúc nãy nghe con nói chuyện cổ trùng khống chế người, thực là sởn cả da gà, nhưng ngẫm lại không phải không có lý.

    Tạ Doãn hơi ngước mắt.

    – Khi con đứng nơi đây, cảm giác dưới bầu trời bốn bề bát ngát, nhưng vừa bước chân ra, lại thấy đường càng ngày càng hẹp.

    Triệu Uyên nói:

    – Con được đặt lên đài cao, được tôn sùng, bị ép phải đi về phía trước, đường xá vừa lầy lội vừa không thấy ánh mặt trời, nhưng con cũng biết con không thể quay đầu. Mỗi khi nửa đêm tỉnh mộng, con đều hận không thể mở mắt là quay về lúc mới chào đời, tinh khôi sạch sẽ, thẳng thắn vô tư, muốn đi đâu thì đi đó.

    Tạ Doãn không nói lời nào.

    – Nhưng con không về được, ngự tọa long liễn này chính là cổ.

    Triệu Uyên dừng lại, bóp nhẹ vai Tạ Doãn, cảm giác hàn ý Thấu Cốt Thanh như con dao nhỏ phá tung lớp vải vóc dày ghim vào lòng bàn tay đau như kim châm, ông nói tiếp:

    – Thôi, không nói mấy lời chán chường đó nữa. Lúc ấy ta ở trong triều, bắc có cường địch, trong không trợ thủ, bốn bề thọ địch, chỉ có con bên cạnh nghe mấy câu oán giận mà ta không thể nói với người ngoài, mấy năm nay.. bất kể con tin hay không.. ta thật sự hi vọng con có thể sống tốt. Vật báu trong thiên hạ, con cần gì cứ bảo họ tìm, hoàng thúc nợ con.

    Tạ Doãn:

    – Không dám, hoàng thượng quá lời.

    Triệu Uyên nhìn hắn sâu sắc, thấy hắn cúi đầu, toàn thân từ trên xuống dưới viết đầy ba chữ "mau mau cút" khó chơi, cuối cùng ông thở dài, xoay người rời đi, bóng lưng có chút cô đơn.

    Tạ Doãn lập tức xoay người cho lui hết mọi người rồi mới lên tiếng:

    – Rốt cuộc là vị bằng hữu nào tự ý xông vào cung cấm?

    Trong phòng trống rỗng không có động tĩnh.

    Tạ Doãn chờ chốc lát, lại cười nói:

    – Các hạ xuất quỷ nhập thần, nếu không muốn bị ta phát hiện, ban nãy chắc chắn đã không cố ý lộ sơ hở, sao bây giờ lại không chịu ra gặp?

    Trên xà nhà có thứ gì đó va vào nhau vang một tiếng khẽ, không nghe thấy tiếng bước chân người đó rơi xuống đất, đối với cao thủ như vậy mà nói, cố ý cho chút động tĩnh tương đương với lịch sự gõ cửa, Tạ Doãn nghe tiếng, quay đầu lại, ngỡ ngàng.

    Một người rất quen thuộc mà xa lạ đang khoanh tay trước ngực, như bỗng dưng rơi vào giữa cung điện xa hoa, nhìn ngó xung quanh không hề khách sáo, sau đó ánh mắt lại dời về người Tạ Doãn.

    Yết hầu Tạ Doãn hơi cử động, ánh mắt người kia như mang theo đốm lửa, châm ngọn lửa hừng hực trên người hắn.

    Người đó nói:

    – Đoan vương điện hạ, hơn ba năm không gặp, cuối cùng cũng thấy ngươi đứng dậy, món nợ bị ta đánh chuẩn bị thế nào rồi?

    Lúc này, trong một nơi hoang vu dưới chân rặng núi, nhóm Lý Thịnh cuối cùng đã vào địa giới Thục Trung, vì đã bỏ lỡ đầu đêm nên đành qua đêm nơi hoang dã.

    Lưu dân quanh năm sống lang thang, cơ thể vốn yếu ớt, lúc trước vì vùng vẫy muốn sống nên liều mạng chống đỡ tinh thần, bây giờ tìm được chốn về và chỗ dựa tin cậy, nhất thời hưng phấn quá độ, tinh thần buông lỏng, không ít người ngã xuống, may có Ưng Hà Tòng đi theo, không để họ bệnh chết trước khi có cuộc sống mới.

    Mọi người không thể cưỡi ngựa, còn vừa đi vừa nghỉ, rất lề mề, tới bây giờ vẫn chưa đến 48 trại.

    Lý Nghiên không biết lấy từ đâu được mấy hạt thông, vứt vào lửa nướng, cực kỳ nhàm chán tự lột ăn. Muội ấy nhìn quanh bốn phía, mọi người dường như đều rất bận, không ai chơi với mình.

    Theo truyền thuyết, vào đêm khuya yên tĩnh, khi thiếu niên hiệp sĩ ngủ ngoài trời nơi hoang dã, không phải đều nâng chén với trăng, xúc động hát vang sao? Nhưng Lý Nghiên nghểnh dài cổ nhìn quanh một vòng, phát hiện các "thiếu niên hiệp sĩ" bên cạnh đều "chong đèn đọc sách" bên lửa trại!

    Ưng Hà Tòng như sắp chui vào trong mớ chữ vu độc thần bí, nhiều lần cúi đầu suýt cháy luôn tóc.

    Lý Thịnh dựa vào dưới một thân cây, lật qua lật lại vật lộn với cơ quan của cái hộp gỗ, chốc chốc lại dùng que gỗ nhỏ vẽ vẽ dưới đất.

    Ngô Sở Sở đưa tay lấy cái ấm nước, ngón tay nhón trên miệng ấm, nhờ ngón tay hơi ướt vuốt ngòi bút, mi mắt rủ xuống múa bút thành văn.

    Lý Nghiên sáp lại, tựa cằm lên vai Ngô Sở Sở, nhìn nàng ấy phân tích tỉ mỉ dưới tên "Thái Sơn", ghi lại nguồn gốc và tinh hoa võ thuật được lưu truyền lại của phái này, Lý Nghiên không nhịn được ngáp một cái, nói:

    – Võ công phái Thái Sơn chung hệ với Thiên Chung, thô lắm, không phải người cao to thô kệch có thiên phú dị bẩm thì toàn là luyện nhiều được ít, muội thấy họ trừ đặc biệt chịu đòn giỏi ra, hình như không lợi hại chỗ nào, Sở Sở tỷ, thứ này tỷ chưa luyện bao giờ, thế mà nhẫn nại chỉnh lý phết.

    Lý Thịnh bị muội ấy đột nhiên lên tiếng ngắt ngang dòng suy nghĩ, không ngẩng đầu nói:

    – Lý đại trạng, câm miệng.

    Lý Nghiên bất mãn hét:

    – Bầu trời đầy sao như gội, mọi người tán gẫu với nhau không tốt sao? Muội nói này, mọi người ai nấy có phải đều lọt nhầm kịch bản không, chúng ta rõ ràng là "du hiệp chí dị", thế mà mọi người lại diễn thành "cột tóc đâm đùi" (1) ?

    (1) Du hiệp chí dị: Ghi lại những chuyện lạ lý thú về du hiệp; Cột tóc đâm đùi: Chỉ sự khắc khổ học tập.

    Ngô Sở Sở bị Lý Nghiên kéo lắc lư, đành tạm dừng bút.

    Tuy bị quấy rầy nhưng Ngô Sở Sở không nhẫn tâm lạnh nhạt Lý Nghiên, bèn tìm đề tài nói chuyện theo ý muội ấy:

    – Mấy năm đầu nơi biên cảnh tổng cộng chỉ có mấy chỗ là luôn giằng co, ngươi tiến ta lùi, nhưng lần này đánh bại Tào Ninh, tỷ cảm thấy nhóm Chu đại nhân giống như đục một cái lỗ trên tường đồng vách sắt, tiến triển cực nhanh, tốc độ hành quân còn nhanh hơn chúng ta về nhà, dọc đường nghe các tin tức vặt.. mọi người nói xem, nếu thật đánh về cố đô, sau này sẽ là thiên hạ thái bình đúng không?

    Ưng Hà Tòng cảm thấy lời này của nàng ấy vô cùng ngây thơ buồn cười, lạnh lùng nói:

    – Thái bình có ích gì chứ, thứ nên mất đã mất từ lâu rồi.

    Ngô Sở Sở tốt tính, không chấp nhặt với hắn, nghiêm túc trả lời:

    – Mất thì có thể tìm về, thực tìm không được thì có thể xây lại, Ưng công tử không ngại nề hà nghiên cứu di tích của Lữ quốc sư, cũng không phải vì truyền thừa di sản của tiền nhân sao?

    Ưng Hà Tòng gượng gạo:

    – Ta chỉ là không muốn để người ta sau này nhắc tới Dược cốc lại nói chúng ta ngay cả chút Thấu Cốt Thanh cỏn con cũng không giải được.

    Hắn nhắc tới chuyện này, mọi người lập tức nhớ tới Chu Phỉ đi Bồng Lai một mình, tức thời không ai nói tiếp.

    Ưng Hà Tòng lẳng lặng lấy xác con Niết Bàn cổ mẫu sắp khô quắt khô queo kia ra ngắm nghía.

    Lý Thịnh thở dài, dời mắt khỏi cái hộp gỗ, ngửa đầu nhìn phía chân trời, bầu trời như nóc lều, Bắc Đẩu lặng lẽ treo trên đó, vô cùng chói mắt, nhìn kỹ một lát, luôn có cảm giác như nó đang chầm chậm di chuyển. Trong lòng hắn bỗng nảy lên một ý nghĩ, hỏi không đâu vào đâu:

    – Trận pháp cấm địa Tề môn dùng tại sao là "Bắc Đẩu đổi chiều"?

    Lý Nghiên và Ưng Hà Tòng mắt to trừng mắt nhỏ, không biết hắn đang nói gì.

    Ngược lại Ngô Sở Sở ngẫm nghĩ rồi nói:

    – Lúc nhỏ ta xem sách cổ, trong sách nói, khi màn đêm sắp đến, Bắc Đẩu thăng lên đế cung, xoay vòng liên tục, mãi đến hôm sau đổi chiều rơi xuống, lùi về trước ánh nắng ban mai. Nếu để ta miễn cưỡng chắp vá thì đại khái là ý "trời sắp sáng", là điềm lành..

    Nàng ấy chưa nói hết thì thấy Lý Thịnh vùng bật dậy như cương thi.

    Ngô Sở Sở:

    – Sao thế?

    Lý Thịnh chợt cúi đầu nhìn hộp gỗ trong tay mình:

    – Ta biết rồi!

    Lý Nghiên không hiểu gì cả:

    – Ca, huynh biết gì?

    – Cơ quan hộp gỗ!

    Lý Thịnh nói nhanh:

    – Hóa ra là vậy, mười hai ván hoạt động, mỗi ván động một lần, chứng tỏ một canh giờ, tinh tượng và trận pháp tương ứng đương nhiên cũng sẽ thay đổi theo.. ta nói mà, sao lại tính kiểu nào cũng tính không ra chứ!

    Hắn căn bản không để ý người khác, vừa nhanh chóng tính toán trên mặt đất, vừa lẩm bẩm gì đó nghe không hiểu.

    Mọi người thấy hắn như vậy đều xúm lại, không dám thở mạnh, nhìn Lý Thịnh gỡ tấm ván gỗ bên ngoài hộp.

    Gỡ xong mười hai ván gỗ khóa cùng nhau, lộ ra bên trong là một cái hộp nhỏ có khe hở.

    Lý Thịnh thở phào một hơi dài, cảm thấy vai cứng như không phải của mình, chưa kịp nói gì thì cái hộp gỗ ấy tự nứt ra.

    Lý Thịnh kêu nhỏ một tiếng, tưởng mình chạm phải cơ quan gì làm hộp tự hủy, toi bao công sức, đang luống cuống tay chân thì thư trong hộp rơi ào ào ra như tuyết, chính giữa lăn ra một quyển trục, mở ra trên mặt đất..
     
  2. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 161: Giật mình tỉnh mộng​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    A, coi chừng lửa!

    – Cầm đồ cũng cầm không xong, bộ tay huynh không có kẽ hả?

    Lý Nghiên cướp lấy quyển trục trước khi nó lăn vào lửa, trượng nghĩa giơ chân, hiểm hóc chặn nó lại, sau đó chí chóe nhảy tưng tưng dập lửa trên giày.

    Ngô Sở Sở bước tới nhặt quyển trục lên, cẩn thận phủi bụi, thấy đó là một bức tranh cũ, vẽ chân dung một người khiến người ta không biết đâu mà lần, nét bút vô cùng đơn giản, không chút trau chuốt, rất giống ảnh chân dung thời xưa dùng khi tuyển chọn quan lại hoặc cung nữ.

    Tranh vẽ một đứa trẻ khoảng 10 tuổi, trông hơi ngây thơ, ở góc viết ngày tháng năm sinh của cậu, không có họ tên.

    Mọi người quay mặt nhìn nhau.

    Ưng Hà Tòng hỏi:

    – Đây là gì?

    Lý Nghiên đọc ra tiếng:

    – "Năm Vĩnh Bình thứ hai mươi mốt." Năm Vĩnh Bình thứ hai mươi mốt là năm nào?

    – Vĩnh Bình là niên hiệu của tiên đế.

    Ngô Sở Sở thuận miệng giải thích, sau đó nói:

    – Nếu người này sinh ra vào năm Vĩnh Bình thứ hai mươi mốt, thì bây giờ chắc gần 40 tuổi, lạ thật, người này có gì đặc biệt ư? Vì sao Tề môn phí công cất giữ bức tranh này như vậy.. A!

    Lý Thịnh vội hỏi:

    – Sao?

    Ngô Sở Sở đột nhiên chỉ vào dấu ấn trên quyển trục:

    – Đây là ấn của cha ta!

    Ngô tướng quân luôn đóng vai một nhân vật thần bí khó lường, dường như ông vừa thuộc về Hải Thiên Nhất Sắc của triều đình, vừa thuộc về Hải Thiên Nhất Sắc của giang hồ, cuộc đời ông như một câu đố kiệm lời, ngay cả trong từng con chữ lời nhắn để lại cũng không đủ để đưa ra một đáp án lờ mờ, vợ con đều chưa từng thật sự hiểu ông.

    – Không chỉ quyển trục đó, ta thấy phần lớn thư ở đây đều là của Ngô tướng quân viết cho Xung Vân đạo trưởng. Kể ra lúc đó thân phận Ngô tướng quân bại lộ và nơi ở ẩn của Tề môn bị phát hiện gần như là chuyện chân trước chân sau, giữa Ngô tướng quân và Tề môn luôn có liên hệ, cũng không ngoài dự liệu.

    Lý Thịnh quỳ xuống, cẩn thận thu gom mớ thư rơi đầy đất:

    – Ơ.. năm thứ nhất, trước năm thứ nhất cũng có một lá "Lương công thân khải", lạ thật, tại sao thư gửi cho Lương Thiệu lại xen lẫn trong đây?

    Ngô Sở Sở vô thức nắm chặt vạt áo mình.

    Lý Thịnh chợt nhớ ra gì đó, ngẩng đầu hỏi nàng ấy:

    – Ngô cô nương, chúng tôi có thể xem không?

    Mọi người lúc này mới nhớ ra, những lá thư này tuy đều là di tích, nhưng là thư của vong phụ Ngô Sở Sở, tùy tiện xem trước mặt nàng ấy hình như không hay lắm.

    Ngô Sở Sở thử mỉm cười đáp lại nhưng không quá thành công.

    Kể từ khi Hải Thiên Nhất Sắc bùng phát lần đầu tiên, những câu chuyện quá khứ dường như đều trở nên không quang minh lỗi lạc, không ai biết Trung Vũ tướng quân Ngô Phí gần như được truyền tụng thành "Quan nhị gia tại thế" đóng vai gì trong đó, mà những thứ này dẫu sao cũng là mật thư..

    Lý Nghiên muốn nói gì đó thì bị ánh mắt Lý Thịnh ngăn lại.

    Lý Thịnh nhìn sắc mặt Ngô Sở Sở, ngập ngừng:

    – Nếu không thích hợp, chúng tôi..

    – Không sao cả, xem đi.

    Ngô Sở Sở chợt ngắt lời hắn:

    – Từ nhỏ cha đã nói với ta "không chuyện gì là không thể cho người khác biết", ta tin ông ấy.

    Nói rồi nàng ấy nửa quỳ dưới đất, tự mình mở lá thư viết cho Lương Thiệu, thấy bên trong không có mở đầu, cũng không có lạc khoản, nét bút thậm chí hơi lộn xộn, viết gần như vô lễ: "Giấy chung quy không gói được lửa, Lương công, hà tất chấp mê bất ngộ!"

    Ngô Sở Sở vừa nói xong "không có chuyện gì là không thể cho người khác biết" liền bị cha đẻ dán vào mặt câu "giấy không gói được lửa", lập tức tay run lên, lá thư tuột tay bay ra ngoài, may mà Ưng Hà Tòng ở bên cạnh chụp lấy.

    Ưng Hà Tòng chưa bao giờ biết nhìn sắc mặt người khác, nói:

    – Lá thư này viết cho Lương Thiệu nhưng cuối cùng không đến tay Lương Thiệu, mà Ngô tướng quân và Xung Vân đạo trưởng của Tề môn luôn giữ liên lạc, bởi vậy chúng ta liệu có thể suy đoán, rằng năm xưa Tề môn lợi dụng mật đạo ẩn nấp, vô hình chính là đường dây liên lạc giữa Ngô tướng quân và Lương Thiệu?

    Hắn kẹp lá thư giữa ngón tay quơ quơ, lại nói:

    – "Giấy không gói được lửa" và "chấp mê bất ngộ" nói rõ lúc đấy Lương Thiệu chắc chắn đang che giấu gì đó, sau khi Ngô tướng quân biết thì phản đối kịch liệt, thậm chí mạo hiểm viết một lá thư sinh thêm chuyện như vậy để chất vấn, mà Xung Vân đạo trưởng lại chặn lá thư này, tại sao? Sợ họ xảy ra tranh chấp hai bên? Ta cảm thấy chỉ xét những từ ngữ trên lá thư này, tuy không quá khách sáo nhưng cũng không phải chỉ thẳng vào mũi mắng, Lương đại nhân chắc không tới mức nổi cơn thịnh nộ chứ nhỉ.

    Lý Thịnh chợt nói:

    – Xem thư viết khi nào?

    Lý Nghiên vội vàng nhặt một lá thư lăn xuống, đọc:

    "Năm Kiến Nguyên.. thứ hai", ca, năm Kiến Nguyên thứ hai làm sao? Huynh còn chưa ra đời đấy.

    Lý Thịnh nhìn Ngô Sở Sở, Ngô Sở Sở lập tức hiểu ý, đưa tay quẹt vành mắt đỏ hồng, lật tìm trong đống ghi chú dày cộm của mình về võ lâm, lát sau nói:

    – Năm Kiến Nguyên thứ hai.. A! Lý lão trại chủ chết do Bắc Đẩu ám hại, đại đương gia ám sát Tào Trọng Côn không thành.

    Lý Thịnh:

    – Còn nữa không?

    – Ưm, hình như.. đợi đã, truyền nhân Bắc đao vào Trung Nguyên, đả thương Sơn Xuyên kiếm, sau đó..

    Ngô Sở Sở tâm tư nhạy bén, nói đến đây thì rùng mình dừng lại, bốn người đưa mặt nhìn nhau chốc lát, Ngô Sở Sở nhìn quanh, thấy các lưu dân đồng hành cách đó không xa đều đã ngủ say, xung quanh không có người ngoài, lúc này nàng ấy mới nhỏ giọng:

    – Cho nên mọi người đang nghĩ, chuyện của lão trại chủ và Sơn Xuyên kiếm có liên quan với Lương.. Lương tướng gia, Xung Vân đạo trưởng lén chặn thư này, thực ra là để bảo vệ cha ta?

    – Vẫn chưa thể kết luận.

    Lý Thịnh suy nghĩ, lắc đầu, mở lá thư khác.

    Mọi người lúc này đã hoàn toàn không còn buồn ngủ, ngay cả Lý Nghiên như khỉ mẹ cũng ngoan ngoãn im lặng giúp mở thư.

    Ngô Phí tướng quân là nho tướng, lại là chuyên gia binh pháp, thời trẻ có duyên quen biết Xung Vân đạo trưởng của Tề môn chuyên gia trận pháp, hai người lập tức vừa gặp như đã quen thân.. chỉ có điều kể từ khi Ngô tướng quân giả vờ nương nhờ Tào thị, sự liên lạc ngoài mặt giữa hai người liền đứt đoạn, Ngô Sở Sở không hề biết phụ thân còn có một người bằng hữu cũ như vậy.

    Lấy năm Vĩnh Bình thứ ba mươi hai làm ranh giới, quá nửa thông tin về trước là tâm sự giữa bằng hữu với nhau, đa phần đều tràng giang đại hải, lúc thì thảo luận trận pháp, lúc thì lo nước lo dân, Ngô tướng quân trẻ tuổi năm ấy còn phát biểu vài câu của người ngoài nghề về chính trị mới quá khích của tiên đế.

    Nhưng sau năm ba mươi hai, chỉ qua thư cũng có thể nhìn ra được bầu không khí đột nhiên trở nên căng thẳng, cả năm chỉ có vài lá thư, một lá viết lúc đầu xuân, viết qua loa đơn giản kể những sóng ngầm cuồn cuộn trong triều, bản thân vô cùng bất an, sau đó hơn nửa năm Ngô tướng quân hoàn toàn không có tin tức, đến tháng chạp lại thình lình gửi liên tiếp ba lá thư khẩn cho Xung Vân đạo trưởng.

    – Tháng chạp năm đó có lẽ là lúc Tào Trọng Côn dẫn người đi ép vua thoái vị.

    Lý Thịnh đặt ba lá thư của Ngô tướng quân cùng một chỗ.

    Lá thư thứ nhất giọng điệu khá nôn nóng, hiển nhiên là chuyện xảy ra thình lình, Ngô tướng quân không phản ứng kịp, sau đó lá thư thứ hai bình tĩnh hơn nhiều, lúc này tiên đế đã băng hà, Ngô Phí có nhắc trong thư, là họ sẽ không tiếc bất cứ giá nào để bảo vệ thái tử, không ít nét chữ đã bị nhòe, không biết có phải năm xưa từng ướt nước mắt hay không. Sau đó là lá thư thứ ba, hiển nhiên, chuyện của họ không như ý, Đông cung gặp nạn, thái tử tuẫn quốc, tiểu hoàng tôn không rõ tung tích, cuối cùng họ chỉ bảo vệ được đứa con thơ của tiên đế..

    Lý Nghiên xen vào:

    – Cho nên sau khi Xung Vân đạo trưởng nhận được thư của Ngô tướng quân mới tụ tập nhóm Ân đại hiệp và gia gia ra tay hộ tống?

    – Ừ.

    Lý Thịnh nhìn chằm chằm lá thư thứ ba, lơ đãng đáp.

    Lý Nghiên chọt hắn:

    – Huynh lại làm sao thế? Nói tiếng người coi?

    Lý Thịnh bị chọt lung lay, hiếm khi không chấp nhặt với muội ấy, nhìn một câu trong thư như có điều suy nghĩ: "Tiểu điện hạ kinh hãi, bi hận đan xen, trong lúc lang thang thì sốt cao, mê man không tỉnh."

    – Đây là tháng giêng năm Vĩnh Bình thứ ba mươi ba – cũng chính là năm đầu Kiến Nguyên.

    Ưng Hà Tòng mở mấy lá thư phía sau, sau đoạn binh hoang mã loạn ngắn ngủi cuối năm ba mươi hai, Ngô Phí tướng quân căn bản không còn nói mấy lời tán gẫu linh tinh nữa, dùng từ đơn giản trực tiếp, liên tiếp mấy lá thư qua lại đều chỉ có thể xem là ghi chép, chuyện thương lượng thì vô cùng cẩn thận. Bọn Lý Thịnh chỉ có thể thấy thư gửi đến chứ không thấy thư gửi đi, nhưng vẫn như chứng kiến được toàn bộ quá trình xuôi nam hùng vĩ năm xưa.

    – Lúc đó họ chắc là chia hai đường xuống Giang Nam, Lương đại nhân triệu tập binh mã nửa giang sơn phía nam lên bắc, ngang nhiên lấy Thiên Khiếm làm ranh giới, phân Nam Bắc cai trị. Khi đấy Bắc quân đuổi tận không buông, cho nên họ chia quân hai đường, một đường lấy thị vệ đại nội và tàn dư ngự lâm quân để ngụy trang, một đường khác là mấy đại cao thủ hộ tống tiểu hoàng tử chân chính, nhằm bảo đảm an toàn, kế hoạch này chỉ có rất ít người biết, bao gồm cả mấy nhánh quân tiên phong lên bắc tiếp ứng lúc đó.

    Lý Thịnh nói:

    – Chỉ e đến chết họ vẫn tưởng người mình liều mạng hộ tống là tiểu hoàng tử chân chính. Đợi đã, nghe nói năm đó Lương công tử cũng vì yểm trợ hoàng tử mà mang binh dẫn dụ Bắc quân, cuối cùng tuẫn quốc.. người hắn yểm trợ chắc không phải..

    Ưng Hà Tòng:

    – Nếu là ta, ta cũng sẽ làm vậy. Các ngươi đừng quên, trên tay Tào Trọng Côn ngoại trừ binh lính thì còn có Bắc Đẩu. Mấy tên chó săn đó giết một đứa trẻ giữa đám tàn binh bại tướng rất dễ dàng, ngược lại nếu đi theo bên cạnh bọn Sơn Xuyên kiếm, tuy không phô trương cũng chưa chắc thoải mái, nhưng có mấy đại cao thủ bảo vệ thì không ai có thể đến gần, Thẩm Thiên Khu năm xưa cũng không thể, vả lại mấy người giang hồ như họ mang theo một đứa trẻ, vừa đi nhanh vừa không bắt mắt, Bắc quân căn bản không lưu ý tới.

    Ngô Sở Sở chợt nói:

    – Có đáng tin không? Ta từng gặp Thẩm Thiên Khu, ông ta cực kỳ hung ác, nếu ông ta thật ra tay thì vừa thăm dò là biết thật giả ngay, vở kịch này há chẳng phải diễn hỏng sao? Đến lúc đó đại quân Bắc triều hoàn hồn quay đầu vây giết, mà viện quân phía Nam lại không biết chân tướng, căn bản không kịp cứu viện, chỉ dựa vào mấy cao thủ, không chặn được đại quân triều đình.

    Điều này họ đã lĩnh hội sâu sắc, nếu không phải cấm địa Tề môn cho họ chỗ trốn, thì với võ công hiện tại của Chu Phỉ còn suýt bị bắn thành nhím nữa là, huống hồ người khác.

    Lý Nghiên lẩm bẩm:

    – Sao Ngô tướng quân không viết rõ trong thư nhỉ?

    Ưng Hà Tòng:

    – Thế này là rất rõ rồi, cô xem, trong thư nhắc "chư vị, việc không thể chậm trễ, vạn lần cẩn thận" và cả "ấu chúa đột nhiên gặp đại biến, xin thông cảm nhiều", đủ để chứng minh Lý huynh suy đoán rất đúng.

    Ngô Sở Sở:

    – Nhưng..

    Lý Thịnh chợt nhớ ra gì đó, ngẩng phắt đầu:

    – Khoan đã, đương kim hoàng thượng sinh năm nào?

    Câu hỏi này không có đầu đuôi gì hết, mọi người nhất thời ngẩn người.

    Lý Nghiên chớp mắt:

    – Hoàng thượng? Hoàng thượng sinh năm nào, ai mà biết?

    Ngô Sở Sở và Ưng Hà Tòng đều là người tâm tư tỉ mỉ, lập tức nghe ra ý ngầm của Lý Thịnh, đồng thời nhìn về phía bức tranh vẽ kia.

    Ngô Sở Sở nhẹ giọng nói:

    – Hoàng thượng sinh năm nào chúng ta không biết, nhưng thường nghe người ta nói, khi hoàng thượng xuôi nam chẳng qua chỉ khoảng 10 tuổi..

    Thiếu niên sinh năm Vĩnh Bình thứ hai mươi mốt, vào năm thứ ba mươi hai là vừa khéo xấp xỉ tuổi đương kim hoàng thượng. Một đứa trẻ không ai biết tên vì sao còn vẽ chân dung cạnh ngày tháng năm sinh.. để chứng minh nó giống ai?

    Tư ấn của Ngô tướng quân định ra hai tuyến đường một ngầm một lộ để xuôi nam vì sao lại xuất hiện trên bức chân dung này?

    Lý Nghiên cau mày:

    – Cũng tức là nói, năm xưa họ vì bảo vệ hoàng tử mà đưa một đứa trẻ vô tội ra làm mồi nhử?

    Ba người cùng đưa mắt nhìn Lý Nghiên.

    – Nhìn muội làm gì?

    Lý Nghiên khó hiểu:

    – Bất kể nói thế nào thì như vậy cũng quá đáng mà? Sau này đứa trẻ đó sẽ ra sao?

    – Không..

    Lý Thịnh nói một cách khó khăn:

    – A Nghiên, vấn đề không phải ở đây.

    Lý Thịnh nhẹ giọng nói:

    – Vấn đề là, năm xưa sau khi hai lộ binh mã ở Giang Hoài hội hợp với đại quân do Lương đại nhân triệu tập, đứa trẻ trong bức tranh này chưa từng xuất hiện, không có ghi chép, không ai quen biết, không ai biết nó từng tồn tại..

    "Tiểu điện hạ kinh hãi, sốt cao mê man.."

    Giấy không gói được lửa.

    Hải Thiên Nhất Sắc..

    Hải Thiên Nhất Sắc..

    Lý Thịnh giật mình, gần như không dám nghĩ tiếp, khẽ cắn lưỡi mình, nhỏ giọng:

    – Thu dọn hết, chuyện hôm nay, đừng ai nói ra ngoài, mọi người về hết đi, tự ta đưa những thứ này cho cô phụ. Không ai được nói ra ngoài một chữ nào hết, Lý đại trạng, muội nghe rõ chứ?

    Lý Nghiên:

    –..

    Ba người kia đều sởn gai ốc, chỉ có Lý Nghiên còn mơ mơ hồ hồ, lúc này, dị biến phát sinh, một bóng đen hiện ra nhanh đến khó tin, ngay cả Lý Thịnh cũng không chống đỡ kịp, nó đã đến ngay trước mắt.

    Lý Nghiên theo bản năng đẩy Ngô Sở Sở sang bên cạnh, rút đao, đao chưa kịp đẩy ra liền cảm giác một sức mạnh khổng lồ ập vào ngực, muội ấy ảo giác như cột sống ngực và xương sườn của mình đều bị ép biến dạng, chưa thốt tiếng nào thì trước mắt tối sầm, lùi liên tiếp về sau mười mấy bước, ngồi phịch xuống đất.

    Lúc này, Lý Thịnh và Ưng Hà Tòng đã giao thủ với kẻ mới tới, thấy kẻ đó toàn thân quấn trong bộ hắc bào, không thấy rõ đầu đuôi, gầy như một bộ xương, nhưng võ công cao khó tưởng, Lý Thịnh và Ưng Hà Tòng bị hắn ta ép luống cuống tay chân, không hề có sức đánh trả.

    Kẻ đó duỗi bàn tay khô gầy, một phát nắm lấy kiếm Lý Thịnh, tay áo dài phất lên, vứt hắn ra xa hơn một trượng, sau đó túm ngực Ưng Hà Tòng.

    Cả người Ưng Hà Tòng bị hắn ta nhấc bổng, rắn độc trên người thế mà không dám ló đầu trước kẻ lạ mặt này.

    Quái nhân đưa tay vào ngực hắn, xách ra con Niết Bàn cổ mẫu được bọc kín mít, phát ra tiếng cười to chói tai khủng bố không giống tiếng người, nói:

    – Hóa ra là vậy, ha ha, hóa ra là vậy!

    Nói xong, hắn ta cầm lấy con Niết Bàn cổ mẫu, ném Ưng Hà Tòng thở không ra hơi, lên xuống hai cái liền biến mất trong màn đêm!
     
  3. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 162: Tình sâu đậm​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    – Kia là.. khụ khụ khụ!

    Ưng Hà Tòng nằm dưới đất, hồi lâu không thở nổi, cổ đau rát, hắn chỉ bị quái nhân xách lên chốc lát và bị ấn mấy dấu tay xanh tím, thế mà ho chết đi sống lại.

    Ngô Sở Sở tuy thân thủ kém nhất, nhưng được Lý Nghiên đẩy ra sớm nhất, lúc này ngược lại không sao cả, nàng ấy bò dậy vẫn chưa hết kinh hãi, vừa kéo Lý Nghiên vừa nói:

    – Mọi người có thấy tay người đó không?

    Quái nhân nhìn không thấy mặt mũi nhưng tay duỗi ra lại dài hết hồn, da thịt khô quắt thâm đen dính lên xương, giữa cánh tay và bàn tay có thể nhìn rõ từng chỗ nối xương.

    Ngô Sở Sở:

    – Thực giống y những cương thi bị Niết Bàn cổ hút khô ấy!

    Giọng Ưng Hà Tòng khàn khàn:

    – Không cần giống, đó chính là Niết Bàn cổ chúa.. Ân Bái.

    – Là Ân Bái.

    Lý Thịnh trầm giọng:

    – Ta từng giao thủ với những dược nhân của hắn ta, ai nấy đều công lực thâm hậu, nhưng.. shhh.. đều toát mùi thối rữa.

    Ngô Sở Sở vội nói:

    – Vậy những lời chúng ta mới nói chẳng phải bị hắn ta nghe hết rồi sao?

    Lý Thịnh cẩn thận hoạt động sau lưng đau nhức, nghe vậy cúi đầu nhìn lướt qua cuộn tranh và những mật thư chết người. Ân Bái không đụng tới chúng, ban nãy hắn ta đột nhiên xuất hiện lại đột nhiên rời đi, mọi hành động đều giống như cổ trùng lên não, chỉ nôn nóng cướp con mẫu trùng chết ngắt, toàn thân đều toát vẻ điên rồ.

    – Đừng hoảng.

    Lý Thịnh định thần lại, nhỏ giọng:

    – Chúng ta cũng đoán bừa thôi, ngay cả chúng ta cũng không tính là có chứng cứ, Ân Bái càng không có, Niết Bàn cổ mẫu chết không phải hoàn toàn không ảnh hưởng tới Ân Bái, ta thấy thần trí hắn ta không rõ ràng lắm, người như vậy dù ra ngoài nói hươu nói vượn cũng không ai nghe đâu.

    Ưng Hà Tòng cười lạnh:

    – Năm xưa khi gọi Niết Bàn cổ lên người mình thì hắn ta đã không có thứ gọi là "thần trí" rồi.

    Lý Thịnh nói nhanh:

    – Chuyện này quan trọng, chỉ sợ đêm dài lắm mộng, không thể dây dưa nữa, như vậy.. A Nghiên, Ngô cô nương, hai người tiếp tục dẫn các lưu dân lên đường, trở về nói hết đầu đuôi chuyện này cho đại cô cô, bây giờ ta lập tức mang cái hộp gỗ Tề môn này đi tìm cô phụ.. Ưng huynh, Ân Bái cướp Niết Bàn cổ mẫu, lại nghe những lời chúng ta nói, ta nghi ngờ lúc này hắn ta muốn đi Kim Lăng hoặc cố đô, mà độ khả thi của Kim Lăng lớn hơn.

    – Ta biết rồi.

    Ưng Hà Tòng gật đầu:

    – Ta sẽ đi Kim Lăng xem thử, ta cũng muốn biết hắn ta cầm một con sâu chết thì có thể giở trò gì.

    – Cảm phiền rồi, A Nghiên, đưa khối Ngũ Bức lệnh của muội ra đây.

    Lý Thịnh gật đầu, bảo Lý Nghiên giao ra lệnh bài dơi đỏ mang theo bên người rồi gỡ bảng tên bên hông mình xuống, gộp lại đưa hết cho Ưng Hà Tòng, căn dặn:

    – Trước tiên liên hệ Hành Tẩu Bang để họ tìm Dương Cẩn, Kình Vân Câu đều là người Nam Cương, đời đời làm bạn với độc trùng và khí độc, chắc chắn có bản lĩnh đặc biệt trong phương diện phòng độc trấn cổ, rắn của huynh sợ Ân Bái, nếu gặp hắn ta, khó tránh sẽ chật vật. Với lại đừng quên cầm bảng tên của ta tìm trạm ngầm trong trại, liên hệ với A Phỉ, người trong trại chúng ta khi hành tẩu bên ngoài, bất kể là ai, đến nơi nào cũng biết trạm ngầm ở nơi đó, họ sẽ liên hệ được. Võ công tên Ân Bái này quá mức tà môn, lỡ hắn ta nổi điên lên thì cũng có người có thể kiềm chế hắn ta.

    Ưng Hà Tòng đã quen ngàn dặm độc hành, tay bị nhét hai tín vật, lại bị đổ đầy tai những lời căn dặn, lúc này có chút bối rối.

    Đầu tiên bảo hắn tìm Kình Vân Câu, sau đó bảo hắn triệu hồi Chu Phỉ, nghe giống như Lý Thịnh không hề tin tưởng trình độ y độc của hắn, lại cảm thấy võ công của hắn cũng không tốt nốt, nhưng không biết có phải vì giọng điệu Lý Thịnh quá chân thành tha thiết hay không, Ưng Hà Tòng không hề cảm thấy không thoải mái.

    Lý Thịnh vỗ vai hắn, lướt qua Ưng Hà Tòng, nhìn các lưu dân bị động tĩnh ban nãy đánh thức, nói:

    – Một cây làm chẳng nên non, huynh đệ.

    Ưng Hà Tòng sững sờ, ngón tay cầm Ngũ Bức lệnh và bảng tên nắm chặt, tiếp đó nhìn sâu sắc Lý Thịnh, khẽ gật đầu, xoay người rời đi.

    Các phương thế lực hoặc sáng hoặc tối nhao nhao lên đường, mục tiêu nhắm về cùng một hướng: Nam đô Kim Lăng.

    Mà trong thành Kim Lăng vẫn là sắc thu an lành.

    Chạng vạng, tà dương dần tắt, tiếng phượng tiêu vang vọng, chiếc đèn hoa sen đầu tiên được thắp sáng bên bờ sông Tần Hoài khẽ đong đưa, ánh sáng nhạt lan tỏa, lá xào xạc rơi xuống nước gần bờ đê rồi lặng yên không bóng dáng.

    Trong thành cung, trăm năm phồn hoa tươi đẹp chưa thay, tường cao ngói trổ chạy dài xa xa, hồn phách Tạ Doãn vốn chìm trong cơ thể lạnh băng như thoát xác tung ra, lảo đảo giữa hiên nhà chạm trổ và trụ ngọc, va phải thềm son và lưu ly ngang dọc bốn phía, khóc lóc không chịu về.

    Bình thường giữa các cao thủ nếu không có địch ý với nhau, vì lịch sự, họ có thể gây ra chút tiếng động khẽ khi ẩn nấp, hoặc hơi tạo ra chút sơ hở, đây gọi là "ném đá", một là để chào hỏi, hai là để thăm dò đối phương sâu cạn. Nếu bị người ta nói toạc ra chỗ ẩn thân, gọi tiếng đầu tiên, người ẩn thân thông thường sẽ không phản ứng, vì nếu tình cờ gặp phải kẻ lõi đời mà võ công chẳng ra sao, đối phương có thể chỉ thuận miệng nói bừa thôi, bị lừa xuất hiện thì quá ngu. Đây là bài bản.

    Tạ Doãn mới đầu còn tưởng là một cao nhân nghịch ngợm nào đó lẻn vào trong cung đùa giỡn. Ai ngờ bị ý trời khó đoán làm choáng váng.

    Chu Phỉ kỳ thực cũng không phải dùng bài bản giang hồ tới trêu Tạ Doãn, sự thật là sau khi nàng nghe Lưu Hữu Lương nói Tạ Doãn trực tiếp vào cung liền không kìm được, tự ý xông vào cung cấm, lang thang cả ngày mà chẳng thu hoạch được gì, vốn đã bình tĩnh lại định rời đi, nào ngờ đúng lúc thấy nơi đây có nhiều đại nội thị vệ canh gác, nhất thời nổi lòng hiếu thắng tinh nghịch, định chuồn vào chơi một chuyến ngay dưới mắt các cao thủ.

    Nàng mang vài phần đắc ý thành công lên xà nhà, vừa nhìn liền thấy ngay người nào đó, suýt trượt chân rơi xuống, lúc này mới có "ném đá".

    Chờ Tạ Doãn dăm ba câu đuổi Triệu Uyên đi, cho lui hạ nhân rồi nói toạc ra chỗ ẩn thân của nàng, Chu Phỉ không hề phản ứng ngay, là vì sau khi nàng thấy Tạ Doãn, người bị cứng đờ rất lâu, vô thức ép tê một chân mình.

    Nhưng nàng không định để lộ sự thực mình ngu ngốc lang thang bên ngoài một ngày một đêm, bây giờ sau lưng còn toát mồ hôi lạnh, bởi vậy nàng trưng bản mặt tỉnh lình, ung dung bước đến chỗ Tạ Doãn, vờ như rất thân quen và hờ hững quơ quơ tay trước mặt hắn:

    – Sao, lại hôn mê à?

    Tạ Doãn nắm lấy tay nàng, sau đó bị chênh lệch nhiệt độ to lớn làm giật mình hoàn hồn, vội buông ra.

    Mồm miệng ba hoa như giấu gai của hắn ban nãy dùng đối phó Triệu Uyên giờ dường như dính lại, hơi đơ ra, ngây ngẩn hồi lâu mới liều mạng gom góp hồn phách đang du đãng trên đỉnh đầu về, lắc đầu cười khan, tìm đề tài nói:

    – Bao nhiêu năm không gặp, sao vừa gặp ta lại hung dữ thế?

    Chu Phỉ:

    – Là ngươi nhiều năm không gặp ta, chứ ta luôn có thể nhìn thấy ngươi.

    Nói xong, nàng lại hơi cắn lưỡi, bổ sung một câu:

    – Nhìn tới mức phiền chết đi được.

    Khóe môi Tạ Doãn như sông băng đầu xuân, nhanh chóng tan chảy theo thời gian, từ từ tan thành nụ cười xấu xa đúng chuẩn:

    – Gì? Tại hạ hoa nhường nguyệt thẹn mà có thể nhìn phiền thì cô muốn nhìn gì? Thiên tiên chắc?

    Chu Phỉ:

    –..

    Chó không đổi được tánh ăn gì đó, Tạ Doãn không sửa được miệng mồm đê tiện.

    Tạ Doãn bật cười, Chu Phỉ không nhìn nổi, quay đầu muốn quay lại xà nhà thì bị hắn gọi lại.

    – A Phỉ.

    Tạ Doãn đưa ngón tay lạnh băng khều đuôi tóc dài bay lên của nàng, vừa chạm vào liền thả ra, hắn nói khẽ:

    – Ta nhớ cô lắm.

    Bước chân Chu Phỉ khựng lại.

    Nàng cảm nhận được hơi thở lạnh băng đang kiềm chế gom lại, dè dặt giữ khoảng cách với nàng, Tạ Doãn kéo nàng qua chỗ ống tay áo dày nhất, nói:

    – Trước đây ta có nói với cô chưa nhỉ, mười phần mỹ vị nhân gian thì năm phần là ở Kim Lăng?

    Chu Phỉ:

    – Ngươi còn vừa gặm cái bánh bao tạp vừa ăn nói bừa bãi, nói muốn mời ta đến tửu lâu ngon nhất Kim Lăng.

    Tạ Doãn:

    – Vậy còn chờ gì nữa?

    Một khắc sau, hai người không coi hoàng cung đại nội ra gì, nhảy khỏi thành cung, men theo chỗ náo nhiệt chạy ra ngoài.

    Trời đã lạnh nhưng hoa đăng như ban ngày, hơi nước lượn lờ bốn phía, vây quanh người Tạ Doãn, nhanh chóng ngưng kết thành vụn băng nhỏ li ti, hắn băng như tia chớp qua đám đông, dẫn đường phía trước, không ôn chuyện với Chu Phỉ, cũng không hỏi nàng tới làm gì, bỏ đi mọi thứ ngọn nguồn nguyên do, chỉ đắm mình vào hiện tại không rõ là mơ hay thực.

    Dọc đường hắn nói nhỏ với đồ nhà quê Chu Phỉ chưa vào thành bao giờ, chỉ điểm về phong cảnh đế đô, mới đầu Chu Phỉ còn nghe tai có tai không, mãi đến khi Tạ Doãn chỉ vào một tiệm son phấn nói:

    – Cô nhìn căn tiệm không bắt mắt kia xem, cái tên "Nhị Thập Tứ Kiều" cũng là có sự tích riêng, nghe nói 200 năm trước có một vị mỹ nhân tuyệt sắc lưu lạc phong trần, một khúc "Nhị thập tứ kiều" vang danh thiên hạ, sau đó hồng nhan dần tàn, cuối cùng thỏa hiệp với trần thế, được một phú hộ bỏ tiền ra chuộc, trước khi đi, nàng ấy ở nơi này thổi tiêu cả đêm, người đời sau rung động với chuyện này nên mở tiệm son phấn ở đây, lấy tiếng tiêu làm tên, với ý "phù sinh nhược mộng, hồng nhan bất lão".

    Chu Phỉ:

    –..

    Tạ Doãn rung đùi đắc ý than:

    – Tiểu mỹ nhân biến thành đại mỹ nhân mà vẫn không hiểu phong tình gì hết.

    Chu Phỉ câm nín chốc lát, lành lạnh nói:

    –.. Vậy à? Ta còn tưởng tiệm "Nhị Thập Tứ Kiều" này là trạm ngầm của trại ta chứ.

    Tạ Doãn chém gió xàm bị người ta vạch trần ngay tại chỗ lại không hề lúng túng, ngược lại chắp tay cười nói:

    – Chậc, năm xưa có người ở cổng nhà mình mà không biết vào thế nào, dọc đường kể 32 điển cố Thục Trung, trong đó 28 cái là tự bịa..

    Hắn nói chưa dứt lời đã bay vút ra ngoài như một làn gió, Quá Vô Ngân dường như còn hơn hẳn năm xưa, một con cún dạo chơi trên mấy tảng đá xanh nghi hoặc ngẩng đầu nhìn quanh nhưng ngay cả cái bóng cũng không thấy. Chu Phỉ tuy không có khinh công tuyệt đỉnh hòa làm một cùng gió mát như hắn nhưng cũng đuổi theo không hề phí sức.

    Bước chân Tạ Doãn dừng bên cạnh một tửu lâu nhỏ bên bờ sông, hắn đứng ở đầu cầu, sương mù trắng xóa trong nước lượn lờ bao quanh, Tạ Doãn nhặt một hòn sỏi nhỏ dưới đất, bắn cực kỳ tinh chuẩn vào lỗ đèn lồng treo cao, kế đó ngoắc tay với Chu Phỉ, chợt nhảy lên, khéo léo điểm lên cây quế ở xung quanh, hương thơm ngào ngạt tỏa ra lác đác, hắn bồng bềnh đáp xuống nóc tòa nhà lầu ba, trên nóc nhà này có một "nhã gian", ngăn ra một chỗ nhỏ, bàn ghế đầy đủ, tiếc là không có thang, phàm là người khinh công hơi kém sẽ không thể lên đây.

    Tạ Doãn thò đầu ra nói với Chu Phỉ:

    – Lên đây, để ý đừng..

    Lời hắn chưa dứt, Chu Phỉ đã lưu loát hạ xuống phía sau hắn:

    – Đừng gì?

    – Đừng đụng làm kêu chuông trên nóc, bằng không họ sẽ không dâng rượu cho cô.

    Tạ Doãn khựng lại, từ từ nói nốt câu của mình xong mới khẽ nói:

    – Trần sư thúc nói cô tiến bộ thần tốc, ngay cả thầy đồ Lâm cũng sợ cô, mới đầu ta còn tưởng ông ấy khen quá lời, bây giờ xem ra, ta cũng sắp sợ cô rồi.

    Lúc này, trong nhã gian nóc nhà vang một tiếng "cọt kẹt", tấm gỗ dưới bàn mở ra từ bên dưới, một hộp cơm ba tầng từ dưới đáy bàn đưa ra, tiếp theo là một bình rượu.

    Tạ Doãn tự làm trước, bưng đồ nhắm lên bàn, nói với Chu Phỉ:

    – Đây là tửu lâu ngon nhất Kim Lăng, mời.

    Nhưng Chu Phỉ không di chuyển, chút ý cười loáng thoáng trên mặt nàng nhạt đi:

    – Ta tìm tới cấm địa Tề môn, thấy di tích cũ của Lữ quốc sư, tình cờ hiểu được yếu quyết của Khô Vinh chân khí, nhưng..

    Một ly rượu chợt bay tới, ngắt lời Chu Phỉ, nàng quơ tay đón lấy theo bản năng, một giọt cũng không rơi ra, Chu Phỉ ngẩn người, chỉ cảm thấy hương rượu mang theo chút hàn ý phả vào mặt.

    Tạ Doãn nhẹ giọng:

    – Giờ lành cảnh đẹp mà nói mấy thứ phá hoại không khí này, có phải cô muốn tìm phạt không?

    Chu Phỉ ngơ ngác ngẩng đầu, Tạ Doãn chạm ánh mắt nàng, chợt giơ tay che ngực, bóp cổ tay nói:

    – Ôi đời người nhiều nỗi hận, hận hoa quế thơm nồng, hận đêm lành ngắn ngủi, hận mẫu đơn không hương, rượu hoa điêu khó say, đại mỹ nhân quấy nhiễu giấc mộng ba năm của ta ở ngay trước mắt mà không cưới được, chậc, đời có gì vui?

    Chu Phỉ:

    –..

    Tạ Doãn lại chợt quay đầu nháy mắt với nàng:

    – Nếu mỹ nhân chịu hôn ta một cái là ta có thể nhắm mắt rồi.

    Chu Phỉ:

    – Có phải ngươi muốn lăn từ nóc nhà xuống không?

    Tạ Doãn cười to:

    – Đầu chúc xuống dưới à? Không được, bất nhã lắm.

    Nói rồi hắn kéo Chu Phỉ vào chỗ ngồi, vắt đôi chân dài không chút hình tượng lên xà gỗ của "nhã gian nóc nhà", xa xa thuyền hoa đã mở, trong ánh sáng dập dềnh sóng nước thoáng vẳng tiếng sênh ca, hắn đưa mắt nhìn, rượu trong ly nơi tay nháy mắt đã kết sương, hồi lâu hắn mới nói:

    – Lúc nãy là đùa đấy, có thể làm lỡ dở cô ba năm, ta đã có thể tiếu ngạo cửu tuyền rồi.

    Ánh nước trong mắt Chu Phỉ lóe lên, sau đó nàng cười nhạo:

    – Bớt dát vàng lên mặt mình đi, không có ngươi, bộ ta không sống nổi ba năm này hả?

    Tạ Doãn:

    – Không có ta, cô không cần đối đầu với Vũ Khúc, không cần phải đi cấm địa Tề môn cửu tử nhất sinh..

    Chu Phỉ nghiêm túc nói tiếp:

    – Phải, cũng chưa chắc luyện thành thần công cái thế đạp lên Bắc Đẩu.

    Tạ Doãn im lặng chốc lát, kinh ngạc quay đầu nhìn nàng:

    – Trời ơi, không biết xấu hổ kìa, thật có phong thái của ta thời trẻ!

    Chu Phỉ bật cười không tiếng động.

    Lúc này, không biết là ai ăn no rửng mỡ, không phải lễ tết gì mà thả pháo hoa nhỏ trên mặt nước, nháy mắt soi sáng một mảng, Tạ Doãn bị ánh sáng ấy quấy nhiễu, hơi nghiêng đầu, chợt cảm giác một vị ngọt cực nhạt mang hơi thở thiếu nữ nhanh chóng áp tới, môi như bị lông vũ lướt qua.

    Tạ Doãn chợt ngừng hô hấp, đờ đẫn.
     
  4. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 163: Sương mù​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Qua một lúc lâu, hai người không ai lên tiếng, gió trên sông quẩn quanh nóc nhà, bốn bề yên tĩnh chỉ còn tiếng nước.

    Chiếc thuyền hoa ban nãy đã lướt đi, mà Tạ Doãn vẫn ngây ngốc nhìn chằm chằm mặt nước đen sì, phảng phất như nơi đó sắp nở ra một đóa hoa quỳnh xoay chuyển giữa úa tàn và nở rộ.

    Chu Phỉ lơ đãng uống hết cả bình rượu, mãi đến khi trong bình rót không ra giọt nào, nàng mới phát hiện không nếm được vị gì, uống cả vò rượu ngon như lừa uống, thuần túy là lãng phí tâm tư chủ quán.

    Nàng chợt thấy rất xấu hổ, vụt đứng dậy, Tạ Doãn như mọc mắt trên lỗ tai, nắm lấy cổ tay nàng.

    Trừ phi đang bị truy sát, bằng không Tạ Doãn hiếm khi có vẻ mặt nghiêm nghị đến thâm trầm như vậy, chắc là hắn cảm thấy đời mình đã có quá nhiều lúng túng, không cần quá nghiêm túc nữa, chỉ có thể tiếp tục bỡn cợt với đời, để mình và người khác đều có thể dễ chịu hơn.

    Hắn nắm rất chặt, đầu ngón tay hơi trắng bệch, căng thẳng hỏi:

    – Cô có dự tính gì?

    Chu Phỉ rất muốn lừa mình dối người nói một câu "ta sẽ ở Kim Lăng một thời gian", nhưng nàng biết, Tạ Doãn không phải hỏi dự tính gần mà là dự tính sau khi hắn chết.

    Nàng cố ý lảng tránh, cố ý giả ngu, nhưng khi nhìn đôi mắt trong veo phản chiếu ánh sáng kia, cuối cùng nàng vẫn cắn chặt răng, gian nan dời ánh mắt, nhìn thẳng vào chân tướng xấu xí.

    Hồi lâu, Chu Phỉ mới nói:

    – Ta không biết, có lẽ xem cha ta có sai phái gì không, nếu không có, hai cái đầu Bắc Đẩu còn lại kia, ta lấy chắc rồi. Chờ rõ ràng những ân oán cũ, có lẽ ta sẽ về 48 trại, giúp Sở Sở chỉnh lý những thứ thất truyền, khi cần sẽ làm tay chân cho trại, sau đó.. sau đó có lẽ thiên hạ thái bình?

    – Ừ.

    Khóe môi Tạ Doãn nở nụ cười kỳ lạ:

    – Tiền nhân đã trải sẵn đường rồi, còn gì mà không thái bình? Ta có thể xin cô một chuyện không?

    Chu Phỉ nhìn hắn, cảm thấy ngoại trừ gầy thì dáng vẻ đó gần như không khác mấy với 8 năm trước khi hắn di chuyển giữa dây trận, hắn giống như một người bị định hình bởi thời gian ngắn ngủi và trải nghiệm quá nhiều.

    Tạ Doãn cố ý gây chuyện, cười với nàng:

    – Ta muốn xin cô gả cho một trượng phu đoản mệnh, để 20 năm sau ta còn có thể lại đi tìm cô.

    Chu Phỉ dùng sức rút tay mình ra, nhưng ngón tay Tạ Doãn như biến thành một lao tù chạy không thoát, cứng đờ giữa không trung không nhúc nhích, nàng chợt run lên, tất cả thói quen ẩn giấu và cảm xúc nội liễm đều hội tụ thành mạch nước ngầm mãnh liệt thanh thế to lớn va chạm qua lại trong lồng ngực chật hẹp của nàng.

    Hai tay Tạ Doãn nâng cổ tay Chu Phỉ lên, cúi đầu áp tay nàng lên trán mình, khẽ nói:

    – Đừng khóc, ngày tháng gặp nhau giữa người với người tổng cộng chỉ trong chốc lát, khóc một khắc sẽ ít đi một khắc, nghĩ vậy, há chẳng phải lỗ lắm sao? Cô và ta chưa từng đầu bạc, đã có thể xem như bầu bạn bên nhau cả đời, có thủy có chung, nói ra không phải cũng là may mắn ư? Đâu cần sống đến 70-80 tuổi chứ.

    Chu Phỉ chợt vung hắn ra:

    – Ngươi mới khóc thì có.

    – Được, Chu đại hiệp sao lại khóc chứ? Dù sao cũng là thiên hạ đệ nhất "đạp lên Bắc Đẩu" mà.

    Tạ Doãn hơi dừng lại, vô cùng thông minh bổ sung:

    – Tuy là tự phong.

    Vì câu "thông minh" này mà Đoan vương điện hạ quý giá khiến các thái y tranh cãi ầm ĩ bị rượt đánh tám con phố.

    Tục ngữ có câu "thời gian là vàng", gần như nó đã trở thành lời nhạt nhẽo mà bọn trẻ con không muốn nghe, lúc nhỏ Chu Phỉ ngủ gật trong thư phòng Chu Dĩ Đường, thường xuyên bị nghe quở câu này, trước nay nàng luôn nghe tai trái ra tai phải, nhưng khi nàng lớn đến tuổi này lại bất giác lĩnh hội được ý nghĩa thấm thía trong câu nói ấy.

    Họ chỉ có chút thời gian, giống như đồng tiền nhẵn thính trong tay thần giữ của nghèo kiết, càng đếm càng ít, càng đếm càng giật gấu vá vai, hận không thể mỗi đồng tiền đều nở ra tám cánh hoa, để cắt mỗi khoảnh khắc thành vô số phân đoạn nhỏ.

    Ban ngày, Tạ Doãn ở trong cung rất bận, thường xuyên phải ứng phó cả đám người – quan chức Lễ bộ liên tu bất tận, thái y vô dụng, và bản thân Triệu Uyên.

    Triệu Uyên dường như muốn lấy lòng Tạ Doãn, thậm chí thả trưởng hoàng tử Triệu Minh Sâm bị giam nhiều năm ra ngoài, vả lại còn ba ngày hai bận gọi Minh Sâm vào cung, để một kẻ mặt mày hốc hác và một kẻ bệnh tật xanh xao diễn trò huynh đệ tình thâm thỏa thích.

    Những lúc thế này, Chu Phỉ luôn ở trên xà nhà xem Triệu gia diễn trò, Tạ Doãn và nàng đã thương lượng ngắn ngủi ra một bộ thế tay đặc biệt, Tạ Doãn thường xuyên vừa giả vờ đứng đắn lá mặt lá trái với người khác, vừa dùng tay sau lưng nói lời thật lòng chanh chua với Chu Phỉ, nhiều lần chọc cho kẻ làm quân tử leo xà nhà như nàng suýt bại lộ.

    Chờ đuổi đám người rỗi hơi đó đi, Tạ Doãn sẽ không xem hoàng cung đại nội ra gì, dẫn Chu Phỉ đi chơi khắp nơi trong thành Kim Lăng.

    Bài bản của công tử quần là áo lượt, bài bản của hiệp khách giang hồ.. cái nào hắn cũng biết, cái nào hắn cũng có thể làm, đồng thời dùng tốc độ nhanh nhất dạy hư Chu Phỉ. Nếu không phải Thấu Cốt Thanh trên người Tạ Doãn phát tác càng lúc càng dày đặc, mỗi ngày đều suy nhược đi thấy rõ, thì những ngày này thực có thể xem như tốt đẹp.

    Càng gần ngày ba tháng chạp – ngày nhục nhã của quốc gia, nơi ở tạm của Đoan vương cũng càng náo nhiệt, lễ phục long trọng và đồ vật cứ tuôn vào như nước chảy, mà trong ngoài triều đình cũng không biết từ đâu xuất hiện một lời đồn, nói hoàng thượng đón Đoan vương về vào thời khắc mấu chốt này, e có ý muốn lập thái tử.

    Hiệu quả của lời đồn này không hề nhỏ, trước cửa phủ Tạ Doãn cơ hồ đông như trẩy hội, ồn ào khiến hắn rất phiền, suýt muốn phá hỏng "đại điển tế tổ" của Triệu Uyên, đành ngày ngày giả bệnh, đóng cửa từ chối tiếp khách.

    Mồng một tháng chạp, đại điển tế tổ đã sắp xếp xong xuôi, chỉ chờ ngày các nơi chính thức hóa trang lên sân khấu.

    Lúc này, tiền tuyến truyền về tin chiến thắng, tàn binh bại tướng Bắc triều hốt hoảng tập hợp lại căn bản như giấy, thậm chí hơi nghe thấy động tĩnh đại quân Nam triều là chạy mất dép, Chu Dĩ Đường trong vòng mấy tháng ép thẳng tới vương đô. Kim Lăng cả năm hiếm thấy mấy hạt tuyết thế mà lại rơi một trận tuyết nhỏ, tuy rất yếu, vừa rơi xuống đất liền tan, nhưng những người mượn danh "thụy tuyết" (1) để ca tụng công đức thì nhiều vô số kể.

    (1) Thụy tuyết: Tuyết rơi đúng lúc.

    Đến đây, thiên thời địa lợi nhân hòa với Triệu Uyên gần như đủ cả.

    Nhưng Triệu Uyên có vẻ càng bất an hơn xưa, lúc tới thăm bệnh như thường lệ, vừa chuyện phiếm mấy câu với Tạ Doãn thì có một nam tử dáng vẻ thị vệ đại nội vội vã tiến vào, khom lưng nói bên tai Triệu Uyên. Người này chắc là tâm phúc của Triệu Uyên, dùng công phu kiểu "truyền âm nhập thế", không lộ ra chút nào, lời còn chưa dứt, sắc mặt Triệu Uyên thay đổi, ông đứng phắt dậy, thậm chí không nói với Tạ Doãn câu nào, xoay người đi ngay.

    Tạ Doãn giả vờ tiễn ông, lặng lẽ ra dấu tay với Chu Phỉ, nghe một tiếng vang nhỏ liền biết Chu Phỉ đã nghe lời đuổi theo. Hắn đứng ở cửa như có điều suy nghĩ, nhẹ nhàng khép lại ngoại bào, lúc này vừa khéo một tiểu thái giám vào thu dọn dụng cụ uống trà bưng khay ly khom người đi ra, khi hành lễ vô tình nhìn Tạ Doãn, lập tức sợ kêu "á" lên, khay ly trong tay rơi xuống đất vỡ tan, tiểu thái giám quỳ xuống run lẩy bẩy:

    – Điện, điện hạ..

    Tạ Doãn lúc này mới hoàn hồn, cúi đầu nhìn, phát hiện đầu ngón tay cứng ngắc của mình lại nứt ra, da tróc thịt bong, thế mà hắn lại chẳng hề thấy đau, còn lỡ tay quẹt làm cổ ngoại bào bị nhuốm đỏ một mảng, giống như vừa quét qua cổ.

    Cùng lúc đó, Chu Phỉ lặng lẽ bám theo Triệu Uyên.

    Triệu Uyên cực kỳ sợ chết, các loại thị vệ và cao thủ đại nội hoặc sáng hoặc tối vây mỗi góc lại chật cứng, dù Chu Phỉ võ công cao cũng thực toát một lớp mồ hôi lạnh, nhiều lần suýt bị phát hiện, khó khăn lắm mới tới gần tẩm cung Triệu Uyên. Nàng cũng không có cách gì tốt, vì phòng ngừa ám sát mà trong vòng ba trượng chung quanh nơi Triệu Uyên ở, cây nào cao quá gối đều bị chặt trụi hết!

    Thị vệ vây quanh bốn phía tẩm cung như thùng sắt, còn có người qua lại tuần tra.

    Chu Phỉ lần đầu tiên thấy đại nhân vật sợ chết đến mức long trọng như vậy, mới đầu cảm thấy Triệu Uyên hơi buồn cười, nhưng sau chốc lát, nàng cười không nổi, lòng nổi lên rất nhiều nghi hoặc. Đội hộ vệ được huấn luyện nghiêm chỉnh như vầy không thể nào là vội vàng tập kết, Triệu Uyên đường đường là một hoàng đế, nhưng ông đã sống trong nỗi hoang mang lo sợ tột cùng thế này bao lâu rồi?

    Rốt cuộc ông đang sợ ai?

    Giống như có người ghim chữ "thích khách" vào đầu ông vậy.

    Đúng lúc này, trong tẩm cung xa xa truyền đến tiếng đồ vật rơi vỡ, Chu Phỉ cau mày, thấy mấy thị vệ mặc cẩm bào đen vội vã rời đi, nàng lập tức tránh lao tù bằng biển người mà Triệu Uyên tự tạo cho bản thân, đuổi theo mấy kẻ áo đen kia.

    Mấy kẻ đó khinh công rất tốt nhưng chẳng thấm gì so với cao thủ chân chính, Chu Phỉ đuổi theo vô cùng nhẹ nhàng, thấy mấy thị vệ đó trong thời gian cực ngắn đã mang theo một đám người, thanh thế to lớn ra khỏi cung, chạy tới một nhà dân ở ngoại thành.

    Vài người ăn mặc như tiểu thương bình thường nói với thị vệ dẫn đầu:

    – Người luôn ở đây, xác định, chúng tôi luôn theo dõi nơi này.

    Người nào?

    Chu Phỉ nấp trong bóng tối nhìn theo hướng ngón tay "tiểu thương" chỉ, thấy đó là một tòa trạch viện, trong viện trồng đầy hoa, vào mùa đông lạnh lẽo vẫn tỏa hương thơm ngát, mấy dây hoa từ trong tường viện bò ra, để lộ xuân sắc khắp vườn, càng lộ vẻ kỳ dị.

    Không biết tại sao, khu vườn đầy hoa này khiến Chu Phỉ thấy quen quen.

    Sau đó, hắc y thị vệ dẫn đầu ra lệnh một tiếng, mọi người bao vây tiểu viện, thô bạo phá cửa xông vào.

    * * *Sau đó đồng thời ngẩn ngơ.

    Trong tiểu viện hoàn toàn yên tĩnh, giá treo quần áo vẫn còn, nhưng trang phục bên trên đã không còn bóng dáng, vài chiếc lông đuôi chim rơi xuống đất, dưới bóng hoa um tùm là một chiếc xích đu nhỏ khẽ đong đưa trong gió.

    Giống y như đúc tiểu viện của Vũ Y ban biến mất trong một đêm ở thành Thiệu Dương năm xưa!

    Lúc này, giọng nữ cao cao từ xa truyền tới, hát:

    "Sông dài đổ ra biển cả, mênh mông hướng tới màu trời.."

    Hắc y thị vệ quát to:

    – Đuổi theo!

    Mọi người cùng xông lên đuổi theo hướng tiếng hát. Chu Phỉ lúc này mới từ từ bước khỏi chỗ ẩn thân, nàng không lo lắng, trò người đi nhà trống là tuyệt kỹ của Vũ Y ban, mà giọng hát ban nãy dù hóa thành tro nàng cũng nhớ: Chính là đại ma đầu Mộc Tiểu Kiều.

    Một Nghê Thường phu nhân, một Chu Tước chúa, hai vị tiền bối ấy nếu cùng gây chuyện thì dù gọi hết đám giá áo túi cơm bên cạnh Triệu Uyên ra cũng chưa chắc bắt được.. vấn đề là, đây lại là chuyện gì?

    Chu Phỉ chui vào tiểu viện không một bóng người của Vũ Y ban, thấy cánh cửa bên trong khép hờ, lư hương vừa cháy hết vẫn chưa tan mùi, trong ly còn chút rượu dưới đáy, trên tường đối diện cửa lớn là hai thanh gỗ treo một đao một kiếm, ở giữa kẹp một tờ giấy.

    Chu Phỉ cẩn thận lấy tờ giấy ấy xuống, thấy bên trên viết: "Vũ Y ban mang" Bạch cốt truyện "đến kinh, dâng quà cho Đại Chiêu thịnh thế." [​IMG] Cre: -妄想随江河[email protected]
     
  5. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 164: Mây đen​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Giọng Mộc Tiểu Kiều như hạt cỏ gieo mầm khắp nơi, trong một đêm, dường như đâu đâu cũng hát "Bạch cốt truyện" thần bí, tình thế phát triển quá nhanh, thậm chí muốn cấm đã không còn kịp, cấm quân nhất thời thần hồn nát thần tính, hễ nghe tiếng hát là chạy đi bắt người.

    Nhưng dù là hạng đào kép cũng không thể vô duyên vô cớ bắt bừa, Kim Lăng xưa nay nhã khí, văn nhân thi khách, quan to quý nhân có trào lưu kết giao cùng các danh kỹ và đào kép nổi tiếng, cấm vệ vừa xuất hiện, lập tức dấy lên một làn sóng lớn, vì mấy năm gần đây thủ đoạn Triệu Uyên cứng rắn nên không ai dám công khai chất vấn, nhưng lời bàn luận sau lưng lại ầm ĩ xôn xao.

    Triệu Uyên đêm đó đại nộ, giận đám thuộc hạ vô dụng giấu đầu hở đuôi, lôi thống lĩnh cấm vệ ra đánh 30 gậy, qua ngày kế tiếp, Triệu Uyên lộ diện trên triều đình, nín thinh không đề cập tới chuyện cấm quân bắt người, chỉ vô cùng chân tình bày tỏ những hồi ức về nỗi nhục quốc gia và mối thù nhà cùng những gian truân vất vả của bản thân hơn 20 năm qua, cuối cùng nhẹ nhàng buông một câu, để tưởng nhớ nỗi nhục năm xưa, kể từ tháng chạp, trong cung cấm âm nhạc.

    Người tinh ranh đương nhiên nghe lời biết được ý ngầm, sau khi hạ triều về nhà liền thi nhau báo cho các thân thích bằng hữu, thế là Kim Lăng đêm đêm sênh ca bỗng trở nên im ắng về đêm, vào đêm trước đại điển tế tổ lộ ra sự an bình kỳ lạ.

    Lại thêm một ngày lạnh lẽo âm u, Chu Phỉ dạo một vòng trong thành Kim Lăng, không tìm được tung tích đám Nghê Thường phu nhân, chạng vạng nàng lại lẻn vào hoàng cung. Nàng dự liệu được Tạ Doãn e là không thể xuất cung, nên muốn đi thăm hắn, vốn muốn hỏi vụ "Bạch cốt truyện" rốt cuộc là sao, nhưng phát hiện thái độ Tạ Doãn khác thường, nghỉ ngơi rất sớm, chỉ để lại cho nàng tờ giấy, nói là muốn cùng Triệu Uyên diễn xong màn kịch "lập thái tử", sau này có thể tự do xuất cung dẫn nàng đi chơi, bảo nàng về trước.

    Chu Phỉ vo tờ giấy của hắn, đặt vào đèn lồng đốt, ngồi trên nóc cung điện cao cao một lát, mãi không thấy ánh trăng, khóe mắt nàng bỗng dưng giật giật, nàng tung người nhảy vào màn đêm, lên xuống mấy cái liền không còn bóng dáng.

    Mà Tạ Doãn "nghỉ ngơi rất sớm" đột nhiên mở mắt giữa tầng tầng màn trướng.

    Nhờ ánh sáng nhạt, hắn thấy trên người mình bỗng dưng nhiều thêm không ít miệng vết thương lớn nhỏ, từ đầu ngón tay bây giờ đã lan đến vai và ngực, mùi máu nhàn nhạt lượn lờ quanh người hắn, phảng phất như đang nói rõ đại nạn của thân xác huyết nhục kéo dài hơi tàn này sắp đến.

    Lúc mới xuất hiện tình huống này, Triệu Uyên nổi giận, các thái y sợ đến suýt treo cổ tập thể, nhưng thực sự bó tay hết cách, đành xử lý các vết máu ngày càng nhiều của hắn theo cách xử lý vết thương đao kiếm thông thường.

    Tạ Doãn cẩn thận trở mình, ngửa mặt nhìn màn trướng, lòng uể oải tính toán, Triệu Uyên nghe "Bạch cốt truyện" e là ngủ không được, ông cũng đáng thương quá, tế tổ thôi mà, một mặt lo "Bạch cốt truyện" bỗng dưng xuất hiện có mưu đồ quấy rối gì không, một mặt lo vở kịch "lập thái tử" mình dày công chuẩn bị còn chưa mở màn thì "thái tử" đã bị nứt thành con diều rách.

    Chậc, nhọc tâm nhiều quá.

    Đêm đó, nơi góc đường Kim Lăng ẩm ướt, trong góc một tửu lâu nhỏ chưa đóng cửa vẫn sáng đèn.

    Ở đấy có một nam tử ăn mặc như phú thương, thân thể béo mập, một người chiếm hết chỗ của hai người, đang từ tốn bưng chén rượu nhạt, gắp thức ăn ăn, vô cùng thong thả.

    Tiểu nhị ngáp cả ngày thêm rượu cho hắn ta, chợt hai nam tử trung niên bước theo cầu thang gỗ của tửu lâu lên lầu, nhìn trang phục thì chắc là hộ vệ của phú thương kia. Một người trong đó dáng cao gầy, mặt có vài nếp nhăn như dao khắc, thoạt nhìn bình thường không có gì lạ, nhưng trong khoảnh khắc tiểu nhị bắt gặp ánh mắt ông ta liền giật mình bị dọa, tay run lên, đổ rượu ra bàn.

    Phú thương có thân hình vô cùng phúc hậu kia thấy vậy khoát tay nói:

    – Lui xuống đi, không gọi thì không cần lên.

    Tiểu nhị như được đại xá, không kêu tiếng nào, chạy đi như một làn khói.

    "Phú thương" lúc này mới nói:

    – Thẩm tiên sinh, Đồng đại nhân, mời ngồi.

    Hóa ra đây chính là nhóm Tào Ninh.

    Đồng Khai Dương nheo mắt nhìn hướng tiểu nhị kia rời đi, nói:

    – Thằng nhóc của Hành Tẩu Bang, võ công chẳng ra sao nhưng đúng là rất thông minh.

    Tào Ninh nói:

    – Chỉ là bị khí tức của Thẩm tiên sinh dọa sợ thôi, không cần chú ý. Bây giờ trong thành Kim Lăng ngư long hỗn tạp, loại người gì cũng có, chúng ta đại ẩn vu thị (1), không hề bắt mắt. Sao rồi?

    (1) Đại ẩn vu thị (tức 'tiểu ẩn vu dã, đại ẩn vu thị' hoặc 'tiểu ẩn ẩn vu dã, trung ẩn ẩn vu thị, đại ẩn ẩn vu triều') : Một tư tưởng triết học Đạo gia, ý nói cuộc sống ẩn dật không nhất thiết phải sống nơi rừng núi, đẳng cấp cao hơn chính là sống ẩn dật nơi phố thị phồn hoa, dù trong hoàn cảnh như vậy vẫn giữ được tâm thanh bình yên ả.

    – Không còn hát khúc nữa.

    Đồng Khai Dương rót ra hai chén rượu, trước tiên cung kính đặt một chén trước mặt Thẩm Thiên Khu, nhưng Thẩm Thiên Khu không hề nể mặt, nhận chén rồi trực tiếp đổ rượu ra ngoài cửa sổ, tự thay bằng chén nước.

    May mà Đồng Khai Dương quen biết ông ta nhiều năm, sớm biết ông ta có tính tình thối nên không để tâm, ngược lại cười nói:

    – Đại ca thế này là đến cảnh giới phản phác quy chân (2) "thanh thủy khứ điêu sức" rồi (3).

    (2) Phản phác quy chân: Khôi phục trạng thái ban đầu, điểm cao nhất cũng chính là điểm xuất phát, trong võ học thường dùng để nói về cảnh giới 'tối thượng', không còn phụ thuộc vào những thứ bề ngoài.

    (3) Thanh thủy khứ điêu sức: Câu này ghép loạn câu thơ của Lý Bạch "thanh thủy xuất phù dung, thiên nhiên khứ điêu sức" (nước trong nở ra hoa sen, thiên nhiên không cần trang sức gì, bản thân nó vốn đã đẹp), câu thơ ghép lại mang ý: Nước trong không cần thêm gì nữa, chỉ nước thôi là đủ.

    Thẩm Thiên Khu không phản ứng với câu nịnh nọt này của ông ta, chỉ nói:

    – Triệu Uyên muốn ngày mai tuyên chỉ sắc lập thằng cháu đoản mệnh kia làm thái tử ở đại điển tế tổ, các ngươi không phải nói thằng nhãi đó trúng Thấu Cốt Thanh nhiều năm rồi ư, sao vẫn chưa chết? Liêm Trinh quả nhiên là phế vật chết không hết tội.

    Tào Ninh nói:

    – Triệu Uyên chính vì thấy thằng cháu này ốm đau dặt dẹo nên mới dám lập làm thái tử, vừa khéo hôm nay lập thái tử, ngày mai thái tử chết queo, ông ta có thể giả mù sa mưa khóc lóc một hồi, xem như "trả ngai" không có kết quả, sau này ông ta càng là một hoàng đế danh chính ngôn thuận.

    Đồng Khai Dương khó hiểu:

    – Triệu Minh Doãn chẳng qua là con côi của thái tử chứ đâu phải thái tử thật do Triệu gia sắc phong, Triệu Uyên thân là trưởng bối, đứng ra nhận ngọc tỷ làm hoàng đế trong thời kỳ quyền biến thì có gì danh bất chính ngôn bất thuận?

    Tào Ninh:

    – Nếu không phải Triệu Uyên suốt ngày treo hai chữ "trả ngai" bên mép, lại muốn bịt tai trộm chuông làm nghi thức "tế tổ" rồi "lập thái tử", thì đã chẳng ai nói ông ta không chính thống. Theo ta thấy, Triệu Uyên cũng xem như đại nhân vật đương thời, nhưng không hiểu sao lại để tâm thái quá một số chuyện, thậm chí hơi mất chừng mực.. nói không chừng trong này thực có gì đó mà chúng ta không biết. Ta thấy vị "Tạ huynh" dùng tên giả nhiều năm kia cũng không phải đèn cạn dầu, có lẽ không muốn buông tay khỏi nhân gian sớm, bằng không hà tất làm ra một "Bạch cốt truyện" vào thời khắc mấu chốt này chứ? Khà khà, Triệu gia của Nam triều đúng là khiến người ta suy nghĩ miên man mà.

    Thẩm Thiên Khu ở bên cạnh thờ ơ uống nước lạnh, Đồng Khai Dương lại nói:

    – Đôi chú cháu này đúng thú vị, hai bên đều hận đối phương không thể mau mau chết, thế mà còn sáp lại với nhau cùng diễn trò hòa thuận lập thái tử truyền ngôi, chẳng lẽ tương lai thái tử không chết thì Triệu Uyên thật truyền ngôi cho hắn à?

    Thẩm Thiên Khu hừ lạnh:

    – Nói mấy chuyện vô dụng này làm gì, ta muốn biết, nếu ta lấy cái đầu trên cổ Triệu Uyên, há chẳng phải hời cho con ma bệnh kia sao?

    – Hời cho hắn?

    Tào Ninh cười nói:

    – Thẩm tiên sinh, ta "mất tích" lâu như vậy, binh quyền trong tay đều hời cho hoàng huynh ta, kết quả thì sao?

    Đồng Khai Dương vội nói:

    – Nguyện nghe tỏ tường.

    – Hai đảng cũ mới phương nam đấu nhau từ tiền triều cho tới giờ, vương đô bị họ làm mất một lần rồi, trước mắt gió đông mới áp chế được gió tây. Chu Tồn biết mình căn cơ bất ổn nên chưa bao giờ chịu đại diện cho tân đảng, toàn đặt bản thân vào vị trí kẻ dưới để xông pha chiến đấu, bây giờ lại càng ở nơi tiền tuyến xa tầm tay với, phàm Triệu Uyên có gì bất trắc thì vị điện hạ kia..

    Tào Ninh lắc đầu, cười nói:

    – Nếu hắn thật có quyết đoán khơi lên một tràng gió tanh mưa máu, mạnh mẽ đàn áp mọi người ở Kim Lăng, thì năm xưa sao bị hoàng thúc của mình hại tới mức đó? Hoàng đế sớm đã đổi người rồi. Cục diện trước mắt đối với Triệu Uyên là động không bằng tĩnh, đối với chúng ta vừa hay ngược lại, nước càng đục càng dễ bắt cá, người của ta vẫn ở trong quân, triệu tập họ chẳng qua là chuyện một hai lá thư mà thôi, chỉ cần đủ loạn, chúng ta chưa chắc không thể trở mình.

    Đồng Khai Dương nhạy bén, đương nhiên nghe ra được "chúng ta" không phải chỉ Bắc triều, mà là chỉ bản thân Tào Ninh.

    Câu chuyện đại khái là vầy: Bắc đế vô năng, ghen ghét huynh đệ, dẫn đến tiền tuyến bại trận, bản thân tốt nhất cũng nhếch nhác chết dưới móng sắt phục quốc của người Nam. Ngược lại Đoan vương gia sau khi bị hãm hại lưu lạc trong dân gian lại đi lối đặc biệt, mang theo hai đại cao thủ, dùng chiêu rút củi đáy nồi, triệt để khuấy đục nước của hai miền nam bắc, chỉ cần làm thỏa đáng, vẫn có thể đông sơn tái khởi.

    Đến lúc đó, sẽ không còn ai nhớ hắn ta xuất thân từ tiện tỳ kỹ nữ, không còn ai nhớ di chiếu thiên vị rõ ràng của Tào Trọng Côn.

    Đồng Khai Dương nhỏ giọng nói:

    – Bên kia không ít người đòi công với điện hạ..

    Tào Ninh khẽ cười:

    – Sao thiếu hai vị được chứ..

    Lời hắn ta chưa dứt, Thẩm Thiên Khu đã không kiên nhẫn nghe, uống một hơi hết nước lạnh, ngắt lời Tào Ninh:

    – Ta thấy ấn chủ cũ nên nghe lệnh của cậu là lẽ đương nhiên, nhưng chỉ nghe cậu sai phái một lần này thôi, về sau hai chúng ta không ai nợ ai, không cần cho ta công gì cả.

    Nói xong, ông ta tự đứng dậy bỏ đi.

    Lúc này, một tràng tiếng bước chân rõ rệt trên đường phố như ruột dê dưới tửu lâu vọng đến.

    Thẩm Thiên Khu không biết tại sao, quay đầu nhìn theo tiếng bước chân kia, thấy ở đầu tảng đá xanh hiện ra ánh nước, một nữ tử trẻ cầm đèn lồng giấy chậm rãi bước qua, dáng người nàng nhỏ nhắn thanh tú, không khác gì các nữ tử Giang Nam đầy đường, mặc loại váy dài uyển chuyển thịnh hành đương thời. Nàng cúi đầu, đi không nhanh, bước thẳng tới cửa sau một tiệm bán son phấn, người trong nhà đại khái là nghe tiếng bước chân nên đã mở sẵn cửa chờ nàng, dạy dỗ nữ tử đi về muộn mấy câu, nữ tử im lặng không lên tiếng, treo đèn lồng ở cửa, sau đó "két" một tiếng, người nhà đưa tay đóng cửa lại.

    Mãi đến khi bóng người biến mất, Thẩm Thiên Khu mới khó hiểu thu hồi tầm mắt, không biết tại sao mình cứ nhìn chằm chằm một tiểu nha đầu không rõ dung nhan.

    Sau đó ông ta mặc kệ sắc mặt Tào Ninh và Đồng Khai Dương, xoay người tự bỏ đi.

    Thẩm Thiên Khu không thấy, khi ông ta vừa rời cửa sổ thì cánh cửa đóng lại kia liền mở ra.

    Chu Phỉ vô cùng cảnh giác nhìn quanh thăm dò qua khe cửa.

    Người của trạm ngầm bên cạnh dùng giọng mềm mại đã bị người bản địa đồng hóa hỏi:

    – Sao thế, có người à?

    Chu Phỉ do dự lắc đầu, ban nãy nàng bỗng dưng rợn tóc gáy, hôm nay nàng vào cung tìm Tạ Doãn nên không mang theo đao, bằng không thì mới nãy có khi nàng đã rút đao ra rồi.

    Đang lúc buồn bực thì quản sự của trạm ngầm Kim Lăng bước nhanh tới, nhỏ giọng nói:

    – A Phỉ, sao giờ mới về, có người mang theo vật này tìm cô, cô xem có biết không?

    Ông giao một cái bọc cho nàng, Chu Phỉ cúi đầu nhìn, thấy đồ trong bọc là nhuyễn giáp Thải Hà mà nàng cởi đưa cho Ngô Sở Sở ở cấm địa Tề môn.

    Chu Phỉ:

    – Người đó đâu rồi? Có chuyện gì?

    – Đang đợi cô ở phía trước, gấp lắm, xem ra là có chuyện quan trọng, cô mau lên!

    Rất nhanh, người ngủ không được không chỉ có Triệu Uyên.

    Nhưng bất luận phàm nhân trằn trọc trở trăn thế nào, mặt trời vẫn nhô lên như thường lệ.

    Sáng hôm sau, còn chưa quá canh tư, Kim Lăng liền trở nên bận bịu.

    Trời vẫn còn tối đen, Tạ Doãn vừa nhắm mắt dưỡng thần vừa để mặc bọn hạ nhân loay hoay chải đầu rửa mặt.

    Đột nhiên, cung nữ chải đầu cho hắn kêu "á" một tiếng, quỳ phịch xuống:

    – Nô tỳ đáng chết!

    Tạ Doãn không cần nhìn cũng biết là xảy ra chuyện gì, hắn đưa tay sờ sau gáy, quả nhiên sờ ra được vết máu, chắc chắn là da thịt đột nhiên bị nứt, dọa tiểu cô nương, hắn nhẹ nhàng khoát tay:

    – Không sao, cứ chải tiếp đi, lát nữa hết chảy máu thì tìm thứ gì đó che lại giúp ta.

    Đúng lúc Triệu Uyên vừa bước một chân qua ngưỡng cửa, bước chân dừng lại.

    Triệu Uyên biết Tạ Doãn chính là Thiên Tuế Ưu, cũng từng nghi ngờ "Bạch cốt truyện" là do hắn làm, nhưng nếu là như vậy, vì sao hắn dám dửng dưng ký tên?

    Huống hồ với tình hình trước mắt của hắn, cả Thái y viện đều bó tay hết cách, từ đầu đến chân đều viết bốn chữ "không sống lâu nữa", lẽ nào hắn còn có thể mưu đồ gì?

    Tạ Doãn điềm nhiên hành lễ vấn an ông, nói:

    – Bệ hạ, hôm nay ngài sắc phong thái tử, nếu ngày mai thái tử chết, liệu người ta có nói là vị trí này quá quý, mệnh cách không đủ cứng sẽ không trấn áp được không nhỉ? Vậy sau này không ai dám làm thái tử cho ngài nữa rồi.

    Hắn thậm chí còn không xưng hô "hoàng thúc" như năm xưa nữa.

    Sắc mặt Triệu Uyên thay đổi mấy lần, bỗng nhiên nói:

    – Minh Doãn, con có tâm nguyện gì?

    Tạ Doãn hỏi một đằng đáp một nẻo:

    – Lương tướng năm xưa có tâm nguyện gì?

    Triệu Uyên trầm mặc rất lâu, nói:

    – Lương khanh hi vọng thiên hạ thái bình, nam bắc nhất thống, có người có thể kế thừa di chí của Lương khanh và tiên đế, đừng vì kết cục năm xưa thảm khốc mà chùn bước.

    Tạ Doãn nghe vậy gật đầu:

    – Xem ra bệ hạ đều làm được rồi.

    Vẻ mặt Triệu Uyên vẫn vô cùng căng thẳng như cũ.

    – Con quả thực có nguyện vọng.

    Tạ Doãn cho lui đám hạ nhân vây quanh, cung kính khom người với Triệu Uyên.

    – Con mong bệ hạ có thể có thủy có chung, đừng quên trái tim thuở đầu, đừng phụ lòng Lương công nhiều năm phò tá; cũng mong bạn bè thân thích và người trong tâm khảm đều bình an đến già, sống lâu trăm tuổi; còn về "màu trời" hay "nước biển", đều đã do người thích hợp bảo quản cả rồi.

    Câu cuối cùng đặc biệt đòi mạng.

    Lời Tạ Doãn vừa ngưng, hắn lại nói:

    – Đâm lao theo lao, chưa chắc là không thể, thiên tử có ánh sáng tử vi hộ thể, hà tất để ý bạch cốt yêu ma nho nhỏ?

    Triệu Uyên không thốt nên lời.

    – Nguyện bệ hạ thiên thu vạn đại.

    Tạ Doãn ngẩng đầu cười với ông ta:

    – Thời gian sắp đến rồi, hoàng thúc, chúng ta đi thôi.
     
  6. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 165: Đột ngột​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Tạ Doãn mới đầu còn tưởng chỉ là trời chưa tỏ, nhưng hóa ra là vẫn chưa sáng.

    Mộc Tiểu Kiều và Nghê Thường phu nhân phiêu bạt lúc ẩn lúc hiện hát "Bạch cốt truyện" mới ra, sau đó lại bồng bềnh rời đi, để lại cho cấm vệ kinh thành một vấn đề hóc búa. Tuy được một câu của Tạ Doãn "đâm lao theo lao chưa chắc là không thể" bảo đảm, nhưng Triệu Uyên vẫn sai người giới nghiêm, như bước đi trên băng mỏng.

    Tạ Doãn mặc lễ phục rườm rà, cảm giác vết nứt trên cổ sắp bị mũ miện ép toác ra, may mà lúc này tốc độ chảy máu của hắn cực chậm, chỉ một lát là đông lại, hắn ở một bên thờ ơ lạnh nhạt nhìn Triệu Uyên tế cáo tổ tiên.

    Nghi thức vừa chán vừa dài, hắn nghe mà buồn ngủ, không nhịn được nghĩ, nếu tiên đế trên trời thật sự có linh, e là bị lải nhải tới phiền.

    Mùa đông Kim Lăng ẩm ướt mà âm u lạnh lẽo, tuy không có gió tây giá buốt như cố đô nhưng cũng không hề dễ chịu, qua không lâu lại có một cơn tuyết nhỏ như rắc muối, văn võ bá quan mỗi người mỗi ý đồ riêng ai nấy đều bị lạnh run cầm cập, bên cạnh là Triệu Minh Sâm dẫn một đám hoàng tử lớn nhỏ xếp hàng chỉnh tề, vô tình bắt gặp ánh mắt Tạ Doãn, lập tức liền dời đi.

    Tạ Doãn lười đoán đệ ấy đang nghĩ gì, Tạ Doãn không giống người khác, tuyết rơi lên người hắn không hề bị tan, nhanh chóng đóng một lớp mỏng, hắn đã không còn cảm giác được nóng lạnh, cảm thấy tim đập càng lúc càng chậm, lòng xuất thần lan man, nhẩm tính thời gian của mình, nghĩ: "E đời này mình không về được cố đô rồi".

    Chợt Triệu Uyên kéo hắn.

    Tạ Doãn hoàn hồn, phát hiện đã tới khâu này, hắn cảm thấy chân hơi tê, khó khăn lắm mới vững bước bước về trước mấy bước, thuận thế quỳ xuống.

    Triệu Uyên nhìn hắn sâu sắc, lớn tiếng nói:

    – Phụ huynh của trẫm năm xưa bị kẻ gian hãm hại, thân nhân ly tán, trẫm trẻ người non dạ, nhận nhiệm vụ lúc nguy nan..

    Tạ Doãn mặt không đổi sắc lắng nghe, nhìn cấm vệ đông nghịt, thầm nghĩ: "Nơi thế này e là A Phỉ không tới được, cũng tốt, cho nàng khỏi thấy bộ dạng ngốc nghếch của mình."

    – Lo liệu quốc chính hơn 20 năm, thức khuya dậy sớm, hoảng hốt lo âu..

    Một cảm giác khó tả dâng lên trong ngực Tạ Doãn, đầu tiên là tê ngứa, qua một lát hắn mới phản ứng lại, đó là cảm giác nhoi nhói như kim châm, từ từ lan khắp toàn thân dưới trang phục hoa lệ, trước mắt Tạ Doãn hơi mơ hồ.

    – Trẫm vì đức mỏng, không dám tham quyền luyến vị, muốn phó thác cơ đồ to lớn cho hiền điệt của tiên hoàng huynh, tuân thiên tự, cung cảnh mệnh.. (1)

    (1) Thiên tự: Thế hệ đế vương theo thứ tự của trời cao an bài, thứ tự của tự nhiên; cảnh mệnh: Thiên mệnh khi trao vị trí đế vương.

    Tạ Doãn chậm rãi thả tia chân khí cuối cùng trong khí hải phảng phất như còn mang chút hơi ấm dư âm, đưa nó đi khắp kinh mạch héo mòn có còn hơn không, lòng tìm vui trong đau khổ: "Nếu mình chết ở đây là bệ hạ đẹp mặt, may mà sáng sớm đã đưa Hi Vi ra ngoài cho A Phỉ rồi."

    – Khâm thử.

    Tạ Doãn hơi ngước mắt, vụn tuyết đọng dưới mí mắt hắn rơi xuống, lướt qua sống mũi, đổ ào ào vào trong vạt áo cũng lạnh băng của hắn.

    – Thần..

    Tạ Doãn nặng nề cử động cổ họng mình:

    – Thần không dám phụng chiếu.

    Lời này vừa thốt, Tạ Doãn không biết mình ù tai nghe không rõ hay đám người ngốc nghếch bên cạnh không ngờ tới đáp án này mà đều sững sờ, tóm lại là bốn bề yên tĩnh, nghe được cả tiếng kim rơi, một cơn gió lạnh lẽo từ trên tế đàn trời đất cao cao quét xuống, Tạ Doãn bình tĩnh như trái tim lúc lên lúc xuống của hắn, thong thả điềm tĩnh nói:

    – Thần phụ kỳ vọng của thúc phụ tổ tiên, văn không thành võ không đạt, tài hoa không đủ, đức hạnh không đoan chính, lục nghệ không thông, thân thể không khỏe mạnh, sợ..

    Triệu Uyên chợt quát:

    – Minh Doãn!

    – Sợ không có tướng phúc trạch thâm hậu.

    Tạ Doãn ngó lơ, từ từ nói nốt lời của mình, tiếp đó ngẩng đầu:

    – Thần..

    Đúng lúc này, đột nhiên có người hừ lạnh ngắt lời Tạ Doãn.

    Âm thanh kia dường như cách rất xa, lại dường như ngay sát bên tai, khàn khàn như trong cổ có hai mảnh sắt gỉ sét.

    Tim Triệu Uyên đập mạnh, ngẩng phắt đầu nhìn, thấy xa xa có một người như bóng ma lay động trên lọng ngự liễn cao cao, người đó chỉ điểm nhẹ mũi chân trên lọng cao trượng tám, toàn thân bọc trong hắc y, áo bào rộng lớn phần phật bay theo gió.

    Tất cả cấm vệ đồng loạt căng thẳng, không ai biết người này đến từ lúc nào, lên trên đó khi nào! Thống lĩnh áo đen ép giọng:

    – Bắt.

    Cấm vệ tiến thoái không tiếng động, kỷ luật nghiêm minh, chữ "bắt" chưa rơi xuống đất, tất cả cung tiễn thủ đã xoay người vào vị trí, bốn tiểu đội đồng thời bao vây lại, mũi tên thứ nhất vút qua nền trời đêm mờ mờ. "Bóng ma" kia chuyển động!

    Hắn ta như đám mây đen từ trên lọng cao khoan thai hạ xuống, ống tay áo vung ra như đẩy một bức tường vô hình, ngăn mũi tên và cấm vệ như thủy triều lại, miệng cao giọng rít lên, không ít quan văn bình thường thân thể chẳng ra sao lập tức bị âm thanh kia làm váng đầu hoa mắt, nhất thời không đứng vững được.

    Một thị vệ tiến lên hai bước, đỡ lấy Triệu Uyên:

    – Hoàng thượng, xin di giá trước!

    Bóng ma kia lên tiếng, giọng khàn khàn u ám nói rõ từng chữ:

    – Các ngươi tưởng người xuôi nam quay về thật là hoàng đế của các ngươi ư? Ha ha ha, nực cười, chết rồi sao không thử hỏi Sơn Xuyên kiếm, vì sao bị diệt khẩu?

    Toàn thân Triệu Uyên chấn động, giống như bị người khác cưỡng chế nhổ cái vảy ngược đi, mặt lập tức xanh trắng.

    Một bàn tay lạnh lẽo khẽ nắm khuỷu tay ông, có thứ gì đó lướt qua khóe mắt, ông chợt quay đầu thấy đó là thân vương, mũ miện nặng nề bay ngang ra ngoài, đánh vào đùi "bóng ma" một cách cực kỳ xảo quyệt, đánh hắn ta rớt xuống từ giữa không trung!

    Tạ Doãn thở nhẹ ra một làn hơi trắng, đẩy Triệu Uyên tới thị vệ phía sau:

    – Kẻ điên nói bậy bạ mê hoặc người khác.

    "Bóng ma" vừa tiếp đất, lập tức rơi vào giữa vòng vây cấm vệ, thương trận lập tức áp tới, "bóng ma" lảo đảo hai bước, mũ trùm đầu rơi xuống, lộ ra một gương mặt khô quắt đáng sợ!

    Tất cả da thịt hắn ta đều dính chặt vào đầu, cánh môi khô nứt lộ dấu vết hàm răng, mạch máu và kinh mạch xanh tím như bò sát đóng dưới lớp da mỏng gần như trong suốt, đáng sợ nhất là, ngay cái cổ mảnh như thể một tay là có thể nắm chặt có hình dáng một con sâu to cỡ bàn tay lồi ra từ dưới da!

    Tạ Doãn thở dài, cách đám đông trùng điệp, kêu lên rất khẽ:

    – Ân Bái.

    Mấy thị vệ xông lên:

    – Điện hạ, xin mau mau rời khỏi chốn thị phi!

    Ân Bái cười to sang sảng:

    – Đã gọi là "Niết Bàn" thì sao chết dưới tay phàm nhân các ngươi được, ta vẫn là người đứng đầu độc bộ thiên hạ!

    Tạ Doãn dịch một bước nhưng hơi lảo đảo, dường như lúc nãy đánh Ân Bái đã tiêu hao hết sức lực toàn thân hắn, được thị vệ cuống quít đỡ:

    – Điện hạ!

    Ân Bái vừa ló mặt là giống như trời giáng đại yêu quái, dọa cho hiện trường hỗn loạn, Triệu Uyên vừa được thị vệ vây quanh đưa đi, vừa lớn tiếng quát bảo họ chăm sóc Tạ Doãn.

    Tạ Doãn cảm thấy dở khóc dở cười, không biết tại sao, hắn không bao giờ phân biệt được chân tình và giả ý của bệ hạ.

    Giữa lòng người và lòng người, cách xa thiên sơn vạn thủy vậy ư?

    – Không cần sợ.

    Tạ Doãn nói rất nhỏ:

    – Con nói đâm lao theo lao, thì chính là đâm lao theo lao.

    Thị vệ đỡ hắn không nghe rõ:

    – Điện hạ?

    Tạ Doãn khẽ khoát tay, tự mình đứng vững, gắng gượng một hơi:

    – Bảo vệ hoàng thượng.

    Cùng lúc đó, ở một nơi trên lầu cao, Tào Ninh nghe một tên áo đen Bắc Đẩu tiến lên rỉ tai, chợt cười nói:

    – Sao lại là hắn? Ôi, ta luôn cho rằng ta sinh không gặp thời, hóa ra phong thủy thay đổi, Triệu Uyên cũng có ngày hôm nay. Nói với Thẩm tiên sinh, thời cơ không thể mất, không cần quan tâm kế hoạch ban đầu, thấy sao tiện thì làm.

    Tên áo đen gật đầu, dán vào mặt tường trượt xuống như một cái bóng, chớp mắt liền mất dạng.

    Triệu Uyên từ khi kế vị tới nay chưa từng chật vật như vậy, trong lúc bước chân hốt hoảng, ông mơ hồ sinh ra ảo giác, phảng phất như lại quay về trên con đường chạy trốn hơn 20 năm trước.

    Ông quên cố hương mình, chỉ nhớ từ nhỏ được nuôi trong phủ một vị quan nhỏ bé vô danh ở kinh thành dưới thời Vĩnh Bình, xét bối phận thì vị quan nhỏ ấy là thúc thúc bà con xa của ông, có tiểu nữ nhi gả vào cung làm thứ phi không được sủng ái. Phụ mẫu ông đều mất, bị thân thích đùn đẩy tới lui, vì tướng mạo ông có vài phần tương tự với tiểu hoàng tử của nương nương nên được vị thúc thúc ấy nhận về nuôi dưỡng, muốn để ông làm bạn chơi với tiểu hoàng tử.

    Nhưng tiểu hoàng tử yếu ớt nhiều bệnh hình như không cần một người bạn chơi ở ngoài cung, ông chỉ từng gặp mặt vị điện hạ ấy một lần, vốn tưởng rằng cả đời này mình phải học hành tử tế, thi lấy công danh, dựa dẫm vào chút hoàng thân xa xôi ấy để tương lai được ít chiếu cố không đáng kể. Ngờ đâu một khi phong vân biến chuyển, ông ngơ ngơ ngác ngác được người khác chưng diện sửa soạn rồi đẩy lên đường xuôi nam.

    Người nào người nấy đều xưng ông là "điện hạ", cung kính với ông, chỉ có ông là sợ muốn chết, cực kỳ nhạy cảm ý thức được rằng mình là một tấm bia sống.

    Dọc đường đi, nơi nơi đều là người chết, vô số lần ông bị đánh thức khỏi cơn mơ, co rúm lại trong ánh đao bóng kiếm, khẩn cầu trời cao cho ông chút may mắn, để ông có thể sống thêm một ngày..

    – Thích khách! Bảo vệ hoàng thượng!

    Tiếng kêu sợ hãi chợt kéo căng thần kinh Triệu Uyên, ông chợt hoàn hồn, thấy có hai kẻ áo đen không biết từ đâu xuất hiện, lao vào giữa thị vệ.

    – Bắc Đẩu! Là Bắc Đẩu!

    – Bảo vệ hoàng thượng!

    Vô số đôi tay xung quanh ông đẩy tới đẩy lui, cửu ngũ chí tôn thành "hoa" trong trò chơi đánh trống chuyền hoa, Triệu Uyên khác với Tạ Doãn học nghệ ở Đông Hải từ nhỏ, tuy ông cũng có sư phụ dạy võ nhưng chẳng qua chỉ học thứ công phu rèn luyện sức khỏe kiểu như cưỡi ngựa bắn cung mà thôi. Ông lảo đảo, lòng chợt dâng lên chút mờ mịt, thầm nghĩ: "Tại sao là hôm nay? Vì ta không phải chính thống, cho nên" tế tổ "bừa sẽ gặp báo ứng ư?"

    – Hoàng thượng, di giá qua bên này!

    Trong cơn hỗn loạn, không biết là ai kéo ông, che chở ông thoát khỏi đao kiếm của bọn áo đen Bắc Đẩu thế tới hung hăng. Đều là cấm vệ như nhau, Triệu Uyên không nghi ngờ gì, bất giác đi theo.

    Tối hôm qua Chu Phỉ ở trạm ngầm đợi được Ưng Hà Tòng phong trần mệt mỏi tới, đầu tiên là thình lình bị hắn đổ đầy tai về mật thư của cấm địa Tề môn và đủ loại suy đoán, đầu như to ra không chỉ ba vòng, bệnh cũ mù đường suýt tái phát ngay tại chỗ, đến khi nghe đoạn Ân Bái thì như sét đánh, bật hỏi:

    – Gì? Ân Bái? Hắn ta chưa chết? Hắn ta cướp con sâu chết đó làm gì? Lẽ nào hắn ta có thể phục sinh Niết Bàn cổ mẫu?

    Hỏi Ưng Hà Tòng thì gì cũng không biết, nhưng Chu Phỉ lập tức không ngồi yên được, mới đầu còn miễn cưỡng lý trí, ngờ đâu nửa đêm canh ba có một cung nhân tự dưng đưa tới một thanh trường đao.

    Chu Phỉ cầm thanh đao khắc chữ "Hi Vi" ngẩn người hồi lâu, đột nhiên như bị điên, giục Ưng Hà Tòng ra ngoài ngay trong đêm, đi khắp nơi tìm Ân Bái không biết trốn nơi nào. Nàng còn nghĩ ra một ý tưởng dở hơi: Trên người Ân Bái có thứ gì đó không biết, mà thứ đó khiến tất cả sâu rắn nhường bước tránh lui, vậy chi bằng bảo Ưng Hà Tòng dẫn nàng đi thả rắn, vì rắn của Độc lang trung rất nghe lời, bảo chạy đâu là chạy đó, nếu tới chỗ nào mà bầy rắn nổi điên thì chỗ đó chắc chắn có tung tích của Ân Bái.

    Ưng Hà Tòng nghe ý tưởng "tuyệt diệu" này, cho rằng cô nàng họ Chu e bị bệnh không nhẹ, nhưng hắn đánh không lại nàng, chỉ đành khuất phục.

    Hai người họ tìm từ nửa đêm tới hừng đông như mò kim đáy biển, tìm mãi trong giờ giới nghiêm của cấm vệ nên còn phải lén la lén lút, nhưng không tìm được cọng lông nào của Ân Bái.

    Chu Phỉ nóng nảy ép hỏi Ưng Hà Tòng:

    – Thằng oắt Lý Thịnh kia nói đúng không đó?

    Đột nhiên, họ thấy rất nhiều cấm vệ quân mặc giáp đen như lâm đại địch chạy về hướng tế đàn trời đất ở thành nam.
     
  7. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 166: Sao dời​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Gió tuyết càng mạnh hơn ban nãy, Tạ Doãn nghe tiếng rít lung tung rất có lực xuyên thấu của gã điên Ân Bái, lòng chán nản vô vị, hắn muốn bỏ lại đám người này để đi gặp Chu Phỉ, nếu còn không gặp thì hắn sẽ đi không nổi nữa mất.

    Khinh công của hắn độc bộ thiên hạ, được xưng Phong Quá Vô Ngân, nếu ngòi bút của Ngô cô nương đủ công chính thì khinh công kinh diễm nhất võ lâm Trung Nguyên trăm năm nay ắt có một chỗ cho hắn. Nhưng bây giờ hắn chỉ có thể dùng nó để né tránh đám người dư thừa này, ban nãy sau khi lướt khỏi đám đông trong tiếng hô kinh sợ, hắn không còn sức đâu để "đằng vân giá vụ" nữa, chỉ có thể nép vào tường bước từng bước một, cố sức lết đôi chân nhích về phía trước.

    Đột nhiên, không biết từ đâu truyền tới một tiếng rống:

    – Cẩu hoàng đế chết rồi!

    Tạ Doãn sững sờ, hắn hít sâu một hơi, áp trán vào tường đá, lại hít sâu một hơi nữa, đầu ngón tay nứt nẻ trở nên vô cùng thê thảm.

    "Không đúng." Tạ Doãn thầm nhủ: "Ân Bái là bất ngờ, nhưng những người khác là có mưu đồ trước."

    Chu tiên sinh chỉ còn cách cố đô trong gang tấc, hai thế hệ vất vả tranh đấu, vô số người xả thân, từ bỏ tên tuổi mới đi đến bước ngày hôm nay..

    Hắn chết không đáng tiếc, nhưng sao có thể nhìn họ sắp thành lại bại?

    Toàn thân hắn đang run rẩy, máu chảy nhanh chóng bị đông, để lại vết tay máu trên tường đá xám xanh, tiếp đó hắn nắm chặt ngón tay máu me đầm đìa, xoay người vút về phía âm thanh trong sương tuyết bay lả tả.

    Lúc Triệu Uyên nhận ra điều bất thường thì đã muộn.

    Cấm vệ bên cạnh ông càng lúc càng ít, một "cấm vệ" luôn theo bên cạnh thình lình giơ đao chém về phía lưng ông, nháy mắt không biết Triệu Uyên lấy đâu ra sức, bất ngờ lao về trước với tư thế bất nhã, tránh được một đao trí mạng, quát:

    – To gan!

    "Thị vệ" ấy cười khẽ, từ từ nhấc ống tay áo lên, lộ ra ký hiệu Bắc Đẩu.

    "Đồng bọn" đột nhiên phản bội, bảy tám thị vệ còn lại bên cạnh Triệu Uyên vội vây lại thành vòng, bảo vệ hoàng đế ở giữa, kẻ áo đen Bắc Đẩu kia đột nhiên cười, một tràng tiếng bước chân truyền đến, có người cười nói:

    – Tham kiến bệ hạ, bệ hạ, chúng ta đã hơn 20 năm không gặp nhau rồi nhỉ?

    Đầu Triệu Uyên ong lên.

    Cuối hẻm nhỏ, một bộ y phục đỏ chói mắt hiện ra, người tới nhẹ nhàng cười nói:

    – Bắc Đẩu Vũ Khúc Đồng Khai Dương tham kiến bệ hạ.

    Triệu Uyên cắn răng, bò dậy từ dưới đất, tự mình đứng vững rồi lạnh lùng hỏi:

    – Tào Ninh đâu?

    Đồng Khai Dương cười nói:

    – Sao, bệ hạ muốn ôn chuyện để câu giờ, đợi người tới cứu à? Vậy thì chúng tôi..

    Nói tới đây, ông ta đã đến gần ngay trước mặt, Triệu Uyên căn bản ngay cả bóng người cũng chưa nhìn rõ thì một cấm vệ đã đầu mình hai ngả ngay trước mắt, dòng máu còn mang hơi ấm bắn lên người lên mặt Triệu Uyên, mùi tanh ập tới, Triệu Uyên cả kinh lùi về sau một bước, lưng đụng vào tường.

    Đồng Khai Dương vung giọt máu trên thanh trọng kiếm, cười gằn:

    –.. quá lỗ rồi.

    Những cấm vệ này tuy đều là trong trăm người chọn một nhưng há là đối thủ của Đồng Khai Dương, chỉ trong thời gian hai câu nói là đều biến thành thi thể, lúc này dù Triệu Uyên có tài kinh thiên vĩ địa thế nào cũng không nhịn được cảm giác mình đã đến bước đường cùng.

    Đồng Khai Dương rất muốn thưởng thức bộ dạng sợ hãi mà cố nhịn của Triệu Uyên thêm một lát, nhưng cũng biết rõ Triệu Uyên giảo hoạt, để phòng đêm dài lắm mộng, ông ta không nói tiếng nào, giơ kiếm đâm thẳng về phía cái cổ yếu ớt bằng phẳng của người đàn ông kia.

    Triệu Uyên không nhịn được nhắm mắt lại.

    Đúng lúc này, một cơn gió cực nhỏ lướt qua, mặt Triệu Uyên như bị giáng một bạt tai, bị cơn gió lướt qua ấy làm đau rát. Ông giật mình, chợt ngước mắt nhìn, trọng kiếm của Đồng Khai Dương bị khối băng nhỏ làm lệch đi!

    Đồng Khai Dương bỗng xoay người, thấy trên tường trong hẻm nhỏ có một người không biết đã đứng đó từ khi nào, phảng phất như một cơn gió thổi qua là có thể rơi xuống, bộ hoa phục long trọng ướt đẫm kéo dài trên đất, mũ cài tóc đã bị ném mất lúc đánh Ân Bái, tóc tai hỗn loạn, trên người phủ một lớp tuyết mịn bất kể thế nào cũng không tan được, như một mảng trắng lốm đốm.. nhưng toàn thân hắn vẫn như một công tử văn nhã ngồi ngay ngắn thổi sáo trên lầu cao mặc kệ gió mát thổi qua.

    Con ngươi Đồng Khai Dương co lại, hơi khựng rồi mới thận trọng gọi:

    – Tạ công tử? Hay Đoan vương.. thái tử điện hạ?

    Tạ Doãn cảm giác từng chút từng chút sức của mình đều bị ép ra từ trong xương, bởi vậy không dám lãng phí, chỉ hơi mỉm cười nhìn ông ta.

    Con ngươi Đồng Khai Dương xoay chuyển, nói:

    – Sao thế, ta giết ông ta, chẳng phải điện hạ vừa hay có thể danh chính ngôn thuận đăng cơ sao? Bắc triều sắp đổ, Bắc Đẩu nổi điên ám sát Nam đế.. nghe có gì không thích hợp với ngài đâu?

    Môi Triệu Uyên cử động, dường như muốn gọi một tiếng "Minh Doãn", nhưng không biết sao lại không thốt nên lời.

    Đồng Khai Dương cười nói:

    – Ta đang giúp ngài đấy, điện hạ, chẳng lẽ ngài vẫn muốn ngăn ta ư?

    Nụ cười của Tạ Doãn hơi lớn, đôi môi tái nhợt như nhuốm chút màu máu, hắn hơi nghiêng người, bỏ đi cái áo khoác ngoài với tay áo rộng rườm rà trên người, nhẹ nhàng ngồi trên đầu tường, nói với Đồng Khai Dương:

    – Ngươi cứ thử xem.

    Người này nhìn kiểu gì cũng giống con ma bệnh, ngồi trên tường như có thể bị gió tuyết cuốn đi bất cứ lúc nào, ngón tay nứt nẻ không rõ nguyên nhân, mu bàn tay máu me đầm đìa bị hắn trây trét bừa lên cổ tay áo trắng, toàn thân lộ vẻ yếu ớt gần đất xa trời.

    Nhưng câu "thử xem" của hắn vừa dứt, Đồng Khai Dương lại không dám di chuyển.

    Hai người một ngồi một đứng, cứ thế giằng co nhau.

    Không biết qua bao lâu, hoa tuyết rơi trên đầu Tạ Doãn biến mái tóc dài của hắn từ "lốm đốm" thành "trắng xóa", Đồng Khai Dương suýt nghi ngờ hắn đã bị đóng băng.

    Đột nhiên, một tiếng còi dài từ xa vọng tới.

    Là quân hiệu!

    Có tiếng người truyền đi theo gió:

    –.. Vào thành!

    – Quân Dương Châu vào thành rồi!

    Con ngươi Tạ Doãn khẽ chuyển động, sắc mặt Đồng Khai Dương chợt thay đổi. Trước mắt đang là thời chiến, Triệu Uyên không thể vì một lần tế tổ mà điều động quân đội địa phương, người có thể tự ý làm chủ việc này tất nhiên là Chu Tồn!

    Lần hành động này của họ bị lộ rồi!

    Kế tiếp, tiếng bước chân trật tự đều đặn truyền đến, Đồng Khai Dương vô thức nắm chặt thanh trọng kiếm trong tay, hét lớn một tiếng, lao ra. Thấy ông ta muốn chạy, Tạ Doãn cũng không ngăn cản.

    Ai ngờ bước chân ông ta vừa trượt đi thì tiếng hét thảm vang lên, tiếng bước chân chỉnh tề trong hẻm nhỏ hỗn loạn, tiếng la giết chỉ ồn ào chốc lát rồi im bặt, sau đó "phịch" một tiếng, xác một cấm vệ bị ném vào. Đồng Khai Dương đầu tiên sững sờ, sau đó thấy người tới thì mừng rỡ:

    – Đại ca!

    Thẩm Thiên Khu cụt tay từ từ bước tới.

    Tạ Doãn lặng lẽ thở dài, đối mắt với Triệu Uyên. Làm hết sức người nhưng vẫn phải nghe theo mệnh trời, xem ra khí số đã tận thật rồi.

    Trên người Thẩm Thiên Khu không có chút hơi nước nào, bất kể là vụn tuyết hay nước mưa dường như đều tự động tránh ông ta ra, ông ta đứng đó, mặt đất cũng phải quỳ bái cúi mình dưới chân.

    Thẩm Thiên Khu lạnh lùng liếc Đồng Khai Dương:

    – Phế vật.

    Lời còn chưa dứt, bóng ông ta đã đến trước mặt Triệu Uyên, lần này Triệu Uyên đúng là ngay cả cơ hội hoảng sợ cũng không có.

    Tạ Doãn vốn cho rằng mình kéo thân thể tàn tạ này tới đây, phát huy chút sức tàn lực kiệt giả làm người rơm dọa "quạ" mà thôi, vạn lần không ngờ mình phải đích thân ra tay, hắn bị ép từ trên tường vút xuống, cắn lưỡi mình, dồn tu vi cả đời vào một chưởng Thôi Vân hoàn chỉnh, cái chân tê dại không còn sức nữa. Hắn đánh Thẩm Thiên Khu một chưởng từ xa, mình thì khuỵu luôn dưới đất.

    Dù là lúc đèn cạn dầu thì Thôi Vân chưởng cũng không tầm thường, Thẩm Thiên Khu bị ép nghiêng người dịch đi hai bước, tóc chậm rãi tung bay, vừa nhìn liền biết Tạ Doãn chỉ là nỏ mạnh hết đà, lập tức mỉm cười, nhẹ nhàng nói:

    – Đáng tiếc.

    Mắt Đồng Khai Dương sáng lên, không chần chừ nữa, trọng kiếm tiến về phía lưng Tạ Doãn. Thẩm Thiên Khu dời mắt qua hướng khác, lao tới cổ Triệu Uyên.

    Đúng lúc này, ánh đao cực sáng lóe lên, nhắm thẳng vào con ngươi Thẩm Thiên Khu.

    Khóe mắt Thẩm Thiên Khu nhảy lên, ông ta chợt rút tay về, đồng thời, Đồng Khai Dương cảm thấy kiếm mình chém vào người Tạ Doãn mà như chém vào thứ gì đó rất cứng, mũi kiếm sượt qua rồi trượt đi, ngay cả một sợi tóc cũng không thương tổn được!

    Hóa ra trong nháy mắt, có người ném một chiếc nhuyễn giáp trắng bạc vào giữa Đồng Khai Dương và Tạ Doãn, nhuyễn giáp đó không biết làm từ vật gì, vô cùng tà môn, vừa khít dán vào sau lưng Tạ Doãn, giúp hắn cản một chiêu kiếm.

    Tạ Doãn cũng không chống đỡ nổi nữa, tư thế nửa quỳ ngã ập sang một bên, lặng lẽ kêu: A Phỉ.

    Chu Phỉ mặt không cảm xúc giơ ngang Hi Vi, tim đập điên cuồng.

    Nếu nàng tới muộn một chút, chỉ một chút thôi..

    Thẩm Thiên Khu trước mắt.. quả thực rất khác với Thẩm Thiên Khu năm đó ở cùng nàng trong sơn cốc Mộc Tiểu Kiều, thậm chí là Thẩm Thiên Khu nàng gặp trong thành Hoa Dung. Trường đao trong tay nàng gần như run rẩy, đó là chiến ý chỉ bị ép ra khi đối diện với kẻ địch sinh tử, không cách nào diễn tả.

    Đã thế bên cạnh còn có một Đồng Khai Dương luôn nhìn chằm chằm.

    Chu Phỉ gần như có thể đếm được tiếng hít thở của bản thân, từ khi sinh ra tới nay, lần đầu tiên nàng hối hận vì mình đùa chém gió hơi quá trớn, còn nói gì mà "đạp lên Bắc Đẩu, thiên hạ đệ nhất".

    Quả thực giống như đang tự tạo nghiệt trong vận mệnh.

    Thẩm Thiên Khu nheo mắt đánh giá nàng rất lâu, nhận ra nàng:

    – Là ngươi!

    Tuy Chu Phỉ lòng như lửa đốt nhưng đã quyết định thua người không thua trận, nghe vậy chỉ cười lạnh chứ không lên tiếng.

    Đồng Khai Dương nói:

    – Đại ca, nha đầu này nhiều lần phá hỏng chuyện tốt của chúng ta, không thể giữ ả lại, huynh và đệ liên..

    Thẩm Thiên Khu chợt khoát tay ngắt lời ông ta.

    – Tránh ra.

    Tham Lang lạnh lùng nói.

    Giữa tuyệt đỉnh cao thủ luôn có sự cảm ứng không nói rõ được, Thẩm Thiên Khu vất vả tu luyện nhiều năm sau cánh cửa trong tiểu viện, đã bước nửa bước vào cảnh giới võ si, niềm hối hận lớn nhất trong đời là luyện thành thần công muộn, năm xưa không thể đường đường chính chính phân cao thấp cùng cao thủ đẳng cấp hàng đầu cuối cùng là Đoàn Cửu Nương, tới nỗi trước mắt thiên hạ to lớn nhưng không biết đi đâu tìm đối thủ. Lúc này vừa gặp Chu Phỉ, ông ta lập tức quăng hết Tào Ninh hay ám sát Nam đế ra sau ót.

    – Phá Tuyết đao?

    Thẩm Thiên Khu hỏi, thấy Chu Phỉ gật đầu, gương mặt quanh năm không cảm xúc của ông ta lộ chút ý cười:

    – Được, năm xưa vì nửa cái bánh bao mà giữ lại mạng cho ngươi, là vận may của ta.

    Đồng Khai Dương vội nói:

    – Đại ca, chúng ta còn..

    Thẩm Thiên Khu:

    – Cút.

    Lời ông ta chưa dứt, Kỳ Bộ dưới chân đã trở nên ác liệt, trước tiên ông ta tung một chưởng không phân địch ta đẩy Đồng Khai Dương ra, sau đó không biến chiêu mà trực tiếp quét về phía Chu Phỉ.

    Nội lực hùng hậu gần như đạt đến mức tự nhiên và đao Vô Thường đánh giáp lá cà.

    Ngân hà như thác đổ va vào cơn gió Bất Chu phiêu diêu bất định nhất, xoay chuyển giữa khô vinh, sáng tắt không ngừng.

    Ngực Triệu Uyên nghẹt thở, bị hai đại cao thủ tác động trong con hẻm nhỏ hẹp, không chịu nổi nữa, ngất đi.

    Đồng Khai Dương phiền muộn vì bệnh cao thủ không đúng lúc của Thẩm Thiên Khu, sau khi chật vật lảo đảo đứng vững thì thầm nhủ: "Muốn đánh tới kiếp nào chứ? Lão rùa làm hỏng việc này!"

    Thấy quân Dương Châu đã vào thành, nếu họ không thể tốc chiến tốc thắng giết Triệu Uyên thì chỉ có một con đường chết, Đồng Khai Dương xem xét thời thế mà quyết đoán, nhắm chuẩn thời cơ, ngay lúc Chu Phỉ và Thẩm Thiên Khu tách ra, ông ta quả quyết vung trọng kiếm đánh lén qua.

    Chu Phỉ bị Thẩm Thiên Khu hất ra nửa vòng, đang hướng về trước theo quán tính, không ngờ còn có vụ này, nhất thời không thắng được, vừa vặn lao vào mũi kiếm ông ta, muốn tránh đã không còn kịp!

    Thẩm Thiên Khu giận dữ gầm lên một tiếng.

    Tạ Doãn trừng mắt sắp nứt nhưng hắn đã kiệt sức, dùng hết toàn lực cũng không thể di chuyển một tấc nào, ói ra một ngụm máu, đám rêu xanh dở sống dở chết nơi góc tường bị nhuộm đỏ một mảng.

    Thình lình một dải lụa dài xuất hiện cuốn lấy eo Chu Phỉ, nháy mắt kéo nàng về sau hai bước, vạt áo trước của nàng rách một vệt dài khoảng nửa tấc.

    Chu Phỉ lùi về sau liên tiếp ba bước mới đứng vững, nghe người tới dịu dàng nói:

    – Ơ kẻ không biết xấu hổ kia, đại ca ngươi bảo ngươi cút mà ngươi còn ì ra đó.

    Chu Phỉ ngẩng phắt đầu, là Nghê Thường phu nhân!

    Người còn lại nói:

    – Ta không muốn cứu tên hoàng đế vứt đi này, các ngươi cứ đánh, ta xem náo nhiệt thôi.

    Chu Phỉ:

    – Chu Tước chúa.

    Mộc Tiểu Kiều hừ một tiếng, gảy gảy lúc có lúc không đàn tì bà trong tay.

    Giọng người thứ ba nói:

    – Ta tới đây, đồ đỏ, ngươi dùng trọng kiếm, ta dùng đao, phụng bồi tới cùng.

    Chu Phỉ:

    –.. Cả Dương huynh nữa.

    Dương Cẩn gật đầu với nàng, nói đơn giản:

    – Đám dược nông giúp gã nuôi rắn kia tìm Ân Bái rồi.

    Bốn người chia bốn góc, cứ thế vây hai đại Bắc Đẩu lộng hành 20 năm vào giữa.

    Chu Phỉ chợt quay đầu nhìn Tạ Doãn, trong mắt Tạ Doãn còn chút ánh sáng nhạt, khóe môi rướm máu nhưng mắt mỉm cười, im lặng cử động môi, dùng khẩu hình nói với nàng: Thiên hạ đệ nhất cho ta xem với.

    Vành mắt Chu Phỉ thoắt đỏ.

    Tiếng đao kiếm, tiếng tuyết rơi.. đều bắt đầu xa dần, tầm mắt Tạ Doãn từ từ mờ đi.

    Áo đỏ, Nghê Thường, đàn tỳ bà của đại ma đầu, gương mặt đen của tiểu ca Nam Cương.. dần dần trong thế giới của hắn trở nên tĩnh lặng.

    Cuối cùng, chỉ còn lại ánh đao của Hi Vi.

    Tạ Doãn thầm nhủ: 20 năm sau, ta đi tìm cô nhé..

    Hắn đoán Chu Phỉ nghe được.
     
  8. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 167: Từ từ quay lại​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    – Vốn tưởng chỉ qua đây phỉ nhổ cẩu hoàng đế một lần, không ngờ lại đuổi kịp hai vị đại lão xa xôi tới tìm chết.

    Nghê Thường phu nhân nói:

    – Lần này thật có thể có oán báo oán, có thù báo thù rồi.

    Mộc Tiểu Kiều ở bên cạnh giễu cợt:

    – Lão thái bà, bà làm rùa rụt cổ hơn 20 năm, luyện ra đức hạnh này, phải dựa vào đám hậu bối mới dám ló đầu khoe chút uy phong, có tiền đồ lắm, nếu ta là bà, ta sớm đã đập đầu đi chết rồi.

    Nghê Thường phu nhân liếc xéo, nhưng sợ gã điên này hễ mất hứng liền từ trợ thủ biến thành phá đám, nên bà nhịn không tranh hơn thua miệng lưỡi với hắn, đành trút giận lên người Đồng Khai Dương.

    Thấy tình thế nghịch chuyển, Thẩm Thiên Khu hét dài một tiếng, không quan tâm Đồng Khai Dương bị ba người vây công, ông ta tung người lên bức tường, nơi giẫm qua trực tiếp hóa thành bột mịn, trên tường nháy mắt có nhiều thêm một dãy hố chỉnh tề.

    Chu Phỉ theo sát phía sau, tuyết vụn yếu ớt của Giang Nam bị chân khí liên tiếp xung kích, đột ngột trở nên hung dữ, đánh vào tay Chu Phỉ, để lại miệng vết thương nhỏ li ti.

    Động tĩnh phá nhà của họ cuối cùng cũng kinh động đến cấm vệ và quân Dương Châu, từ trên cao nhìn xuống là có thể thấy phần lớn quân đội đang chạy về phía này.

    Thẩm Thiên Khu đứng trên đầu tường, nhìn Triệu Uyên hôn mê bất tỉnh rồi lại nhìn Chu Phỉ, chợt nói:

    – Mạng Triệu Uyên lớn thật.

    Chu Phỉ nói:

    – Năm xưa ở cố đô, mẹ ta đại khái cũng từng cảm thán như vậy về Tào Trọng Côn.

    Thẩm Thiên Khu nở nụ cười keo kiệt:

    – Ồ, nói vậy là phong thủy luân chuyển rồi?

    Chu Phỉ không đáp, nàng chĩa mũi đao Hi Vi xuống, làm một nghi thức mở đầu thông thường của vãn bối khi thỉnh giáo tiền bối:

    – Tiền bối, mời.

    Thẩm Thiên Khu dùng ánh mắt kỳ lạ đánh giá Chu Phỉ, nàng rất đẹp không có gì nghi ngờ, cô nương trẻ tuổi đều không xấu vào đâu được, nhưng kỳ lạ là, nàng trông không phải dạng nữ tử đầy anh khí, ngũ quan có vài phần giống Chu Dĩ Đường, lại mang theo nét mềm mại tinh tế đặc trưng của nữ tử Thục Trung, rất có dáng mặt mày như họa, so với khi nàng tự dưng xông vào ngục tối của đại ma đầu mấy năm trước thì đã mất đi khí chất trẻ con, lúc nàng không nói tiếng nào cũng không động đao thì trầm mặc và điềm đạm.

    Thẩm Thiên Khu cảm thấy mình nằm mơ cũng chẳng ngờ sẽ có một ngày, một nữ tử "trầm mặc và điềm đạm" như thế xách trường đao đứng trước mặt ông ta, còn cả gan ngông cuồng bảo ông ta xuất chiêu trước.

    Thẩm Thiên Khu nói:

    – Lão hủ cả đời tự đắc với Kỳ Bộ trắng đen trùng điệp, 360 ý biến ảo.. vốn tưởng rằng độc bộ thiên hạ, nào ngờ hôm nay gặp kỳ phùng địch thủ, may mắn thay.

    Mũi đao Chu Phỉ không nhúc nhích.

    Cổ tay áo Thẩm Thiên Khu phồng lên, không gió tự bay, mũi chân chậm rãi vẽ một vòng trên tường, bàn tay gầy gò duy nhất đưa ra trước người:

    – Có thể gạt những kẻ tạp nham, cùng người đồng đạo đường đường chính chính phân cao thấp, không uổng công ta ngồi khô khan nhiều năm như vậy.

    Chu Phỉ thình lình nói:

    – Nghe nói Đoàn Cửu Nương chết dưới tay ông, nhưng ta không cảm thấy năm xưa ông có thể thắng được bà ấy.

    Mặt Thẩm Thiên Khu không biến sắc:

    – Lúc đó ta là thủ lĩnh Bắc Đẩu, chức trách tại thân, đương nhiên có điều phải suy tính cân nhắc, không thể hoàn toàn tập trung vào đạo võ học, hồi tưởng lại, ta không thể dùng tuyệt kỹ để chiến một trận với tuyệt đỉnh cao thủ năm xưa, đến nay vẫn là điều tiếc nuối.

    – Hay cho câu "tiếc nuối".

    Chu Phỉ lạnh lùng nói:

    – Đánh không lại thì ám hại, lấy danh nghĩa đẹp là "chức trách tại thân", đánh lại thì trở mặt thành "kỳ phùng địch thủ". Tiền bối, tuy thỉnh thoảng làm việc ta cũng thích đầu cơ trục lợi, không tính là chính phái, nhưng kiên quyết không dám làm "người đồng đạo" với ông..

    Lời nàng chưa dứt, Thẩm Thiên Khu bỗng tung ra một chưởng. Động tác của ông ta không nhanh nhưng Chu Phỉ cảm thấy quanh thân như bị một loại nội tức vô hình nào đó phong bế, tiến thoái lưỡng nan, rơi vào thế khó, không thể không ngậm miệng.

    Đầu óc Chu Phỉ nhạy bén, chợt đánh vỏ đao Hi Vi ra ngoài, vỏ đao ấy bắn vào không trung như chạm phải bức tường vô hình, bay xuống đất một cách kỳ lạ, Chu Phỉ không chút suy nghĩ, từ trên tường phóng xuống theo sát vỏ đao, thoát được khốn cảnh, đồng thời, nàng lưu loát trở tay tung một đao "Trảm".

    Thẩm Thiên Khu khẽ quát, ép lòng bàn tay xuống, một chưởng hùng hậu không giống như sức người lần nữa phong bế mọi đường đi của nàng. Tảng đá xanh bị ép lõm, đây gọi là "thân sa ngục tù".

    Trong ngõ hẹp, Chu Phỉ căn bản không có không gian né tránh, tựa như có một cái chùy lớn vô hình giữa không trung, bên tai nàng vang một tiếng nhỏ, khóe mắt Chu Phỉ liếc thấy mặt đất bị ép cong vẫn đang khuếch trương ra ngoài, đã ép tới ngọc bội trên người Triệu Uyên rơi xuống, uy lực như bàn long biến hình.

    Nàng thường đi đao theo thế hiểm, tránh trái tránh phải chưa chắc sẽ bị Thẩm Thiên Khu làm bị thương, nhưng người khác thì chưa chắc, huống hồ vừa động thủ đã bị đối phương áp chế, không khỏi quá uất ức.

    Chu Phỉ chợt ứng biến ngược với ban nãy, dám dùng "Trảm" tự quyết không đổi, mạnh mẽ chống lại chưởng của Tham Lang.

    Chưởng phong và Hi Vi sắp va nhau, như chuẩn bị phân cao thấp ngay tại chỗ.

    Thẩm Thiên Khu tuy đánh giá cao Chu Phỉ, nhưng phân nửa trong đó là nể mặt Phá Tuyết đao gia truyền của nàng, chứ không cho rằng một tiểu cô nương có thể cùng ông ta đấu tranh trực diện.

    Nhưng liền sau đó, Thẩm Thiên Khu sững sờ, vào khoảnh khắc trường đao và chưởng phong va nhau, ông ta cảm nhận rõ rệt một đao khí thế hung hăng ấy chỉ là hư ảo, sức mạnh thình lình từ cực mạnh chuyển sang cực nhẹ, nhẹ nhàng trượt khỏi chưởng phong của ông ta, sau đó trở mình biến hóa, từ cực suy chuyển sang cực thịnh, hóa thành "Phá" tự quyết giữa không trung, trường đao như rắn độc lao thẳng vào mặt ông ta!

    Thẩm Thiên Khu hơi không nhìn rõ một chiêu cực quỷ quyệt này đã ra như thế nào, trong tình thế cấp bách, ông ta giơ cánh tay cụt của mình lên, dùng cái móc dài trên đó kẹp lấy Hi Vi, móc sắt không chịu nổi va chạm với bảo đao, vết nứt lập tức lan ra dày đặc như mạng nhện.

    Thẩm Thiên Khu đột nhiên ý thức được gì đó, sắc mặt thay đổi, lẩm bẩm:

    – Khô Vinh thủ..

    Khô Vinh thủ mai danh ẩn tích mấy chục năm, mãi đến khi bà điên Đoàn Cửu Nương hiện thân trong thành Hoa Dung mới khiến người ta loáng thoáng nhớ về những vinh quang kiêu hùng một thuở.

    Nhưng bà điên ấy chẳng phải đã chết rồi sao?

    Khô Vinh thủ chẳng phải sớm đã thất truyền sao?

    Trước mắt Thẩm Thiên Khu chợt lóe lên hình ảnh cái đầu chết không nhắm mắt kia, ông ta nghiến ra mấy chữ từ kẽ răng:

    – Không thể nào!

    Mũi đao Chu Phỉ quơ nhẹ qua, ngay lúc ông ta nói "không thể nào", nàng lại lần nữa xoay vòng giữa hai cấp thịnh suy, lấy "Khô Vinh" làm hồn, lấy "Bất Chu Phong" làm xác, đẩy ra một đao lơ lửng khiến người ta không thể nào tránh được.

    Móc sắt lập tức nát đến không thể nát hơn, sắt nổ văng tứ tung, Thẩm Thiên Khu không chịu nổi, lùi liên tục năm bước, tay cụt hơi run, thần sắc thay đổi mấy lượt, chưa kịp nói gì thì bỗng có người hô lớn:

    – Cẩn thận!

    Chu Phỉ và Thẩm Thiên Khu đồng thời cả kinh, ngẩng đầu nhìn chỉ thấy một bóng đen khổng lồ như bướm đêm hạ xuống giữa hai người, đúng lúc chắn giữa họ trong ngõ hẹp.

    "Bướm đêm" đầu tiên nhìn Chu Phỉ, Chu Phỉ bị cái mặt đầu lâu thình lình xuất hiện đó dọa giật mình, giơ Hi Vi ngang trước người theo bản năng:

    – Ai?

    "Bướm đêm" ngó lơ nàng, Chu Phỉ lúc này mới nhận ra hắn ta đang nhìn chăm chú phía sau mình.

    "Bướm đêm" mặt đầu lâu mở hai cánh môi la lên:

    – Chết rồi, ha ha! Báo ứng!

    Chu Phỉ rất muốn quay đầu xem hắn ta nói ai "chết rồi", nhưng bất kể gã mặt đầu lâu kỳ dị này hay Bắc Đẩu Tham Lang ở cách đó không xa đều khiến nàng không dám phân tâm.

    Ánh mắt "bướm đêm" chợt dời về nhìn sâu sắc Chu Phỉ một cách khó tin, Chu Phỉ sững sờ, cảm giác ánh mắt của gã điên này khiến nàng có cảm giác quen thuộc khó tả, chưa đợi nàng hồi tưởng kỹ thì bướm đêm mặt đầu lâu quay đầu nhìn Thẩm Thiên Khu, miệng rít vang:

    – Bắc Đẩu à?

    Thẩm Thiên Khu cau mày:

    – Người tới là ai?

    Bướm đêm hoàn toàn phớt lờ, không nói lời nào, trực tiếp lao về phía Thẩm Thiên Khu.

    Sắc mặt Thẩm Thiên Khu trầm xuống, đánh ra một chưởng ngay ngực, đánh cho người nọ thông từ trước ra sau ngực, Chu Phỉ ở gần nghe được cả tiếng xương vỡ nát.

    Mặt đầu lâu gầy đến kinh người, sau lưng lồi ra không tự nhiên, xương trắng bị gãy đâm thủng cả da và áo ngoài, kéo theo nội tạng máu me đầm đìa.

    Dù là Chu Phỉ không sợ trời không sợ đất, thấy cảnh đó cũng không khỏi hơi buồn nôn.

    Càng ly kỳ hơn là, "bướm đêm" bị đánh thành như vậy mà chưa chịu chết!

    Hắn ta như không sợ đau, không sợ đánh, chết cũng không hàng, vác thân thể nát bấy xương tiến nhanh hai bước, cúi đầu cắn cánh tay cụt của Thẩm Thiên Khu.

    – Dược nhân!

    Chu Phỉ đột nhiên tìm được nguồn cơn cảm giác quen thuộc ban nãy.

    Thẩm Thiên Khu vừa kinh hãi vừa tức giận mắng một tiếng, dùng sức lực man rợ muốn khử gã điên này, cái cổ yếu ớt của gã mặt đầu lâu bị ông ta vặn một đường lớn.

    Nếu là người bình thường bị gãy cổ thì sớm đã chết tới không thể chết hơn, nhưng gã mặt đầu lâu không biết là yêu nghiệt phương nào, mệnh môn như mọc ở trên răng, thấy đầu sắp rớt xuống mà vẫn cắn chặt quyết không buông.

    Thẩm Thiên Khu mạnh mẽ vận khí một hơi, muốn đánh nát cái đầu lâu yêu nghiệt nhưng một hơi này của ông ta còn chưa vận lên cổ họng thì toàn thân đột nhiên run rẩy.

    Tiếp đó, đường đường là Tham Lang lại hét thảm trước mặt mọi người.

    Một luồng khí màu tím đen dâng lên theo cánh tay ông ta, Thẩm Thiên Khu đã mất một tay, cái móc dài vốn thay thế cánh tay lại không khéo bị Chu Phỉ đánh nát, trong tình thế cấp bách, không kịp làm tráng sĩ chặt tay.

    Khí đen như rồng, nháy mắt vượt qua vai, vọt lên cổ và mặt ông ta!

    Chu Phỉ:

    –..

    Mũi đao trong tay nàng còn chưa kịp chĩa xuống đã bị biến cố này dọa ngây người.

    Thẩm Thiên Khu vừa hét thảm vừa va lung tung khắp nơi, tường thấp bốn phía đều gặp tai ương bởi chân khí trút xuống của ông ta, Chu Phỉ bị ép lùi về sau, ngay cả Triệu Uyên hôn mê cũng bị đánh thức, không may đúng lúc bị Chu Phỉ lùi giẫm trúng bắp chân, lập tức rên thành tiếng.

    Chu Phỉ trong lúc hỗn loạn mới nhìn thấy nhân vật quý giá này, lập tức hiểu ngay "bướm đêm" ban nãy nhìn gì phía sau nàng, nàng nhấc tay lấy Hi Vi đè lại bả vai Triệu Uyên, nói khẽ:

    – Hoàng thượng, ta thấy ông nên tiếp tục giả chết thì tốt hơn đấy.

    Nửa câu sau bị chìm trong tiếng tường đá đổ nát, Thẩm Thiên Khu ban nãy liều chết giãy giụa, bướm đêm mặt đầu lâu đương nhiên đứng mũi chịu sào, xương cốt toàn thân hắn ta như mấy cọng rơm rạ không xếp tốt vào nhau, đâm áo bào rộng rách tứ tung.

    Nhưng toàn thân Thẩm Thiên Khu như bị thứ gì đó từ từ hút cạn, cấp tốc khô héo dưới ánh mắt trừng chằm chằm của bọn Chu Phỉ, da dán chặt vào xương, khô từ tay đến cổ, cuối cùng bất động, im lặng ngã ngửa ra sau, nhào xuống đất cùng với con "bướm đêm" cứ cắn chặt không buông.

    Mãi đến lúc này, Ưng Hà Tòng la to "cẩn thận" ban nãy mới thở hồng hộc dẫn theo một đám cấm vệ chạy tới.

    Chu Phỉ nhìn con "bướm đen" sắp tan nát kia rồi lại nhìn Ưng Hà Tòng, chợt hiểu ra gì đó:

    – Chẳng lẽ.. hắn ta.. hắn ta là..

    Ưng Hà Tòng liếc ba người đã khống chế được Đồng Khai Dương, thở hổn hển chốc lát, nói:

    – Điên rồi, gã Ân Bái đó tuyệt đối là điên rồi! Hắn ta dùng cổ độc còn sót lại trên người mình để nuôi xác cổ mẫu, không biết dùng phương pháp kỳ quái gì mà luyện hóa được xác cổ mẫu kia hút vào trong cơ thể..

    Chu Phỉ ngắt lời hắn:

    – Đợi đã, nghe không hiểu.

    Ưng Hà Tòng nói không kiên nhẫn:

    – Ta nói hắn ta tự nuôi bản thân thành một con cổ mẫu, hiểu chưa?

    Lúc này, Thẩm Thiên Khu chắc chắn đã ngỏm, Ân Bái "trở mình", lăn xuống khỏi người ông ta, lộ khuôn mặt đầy máu, ngửa mặt lên trời ngã nhoài ra đất.

    Hắn ta thực như con quỷ sống, mọi người bị động tĩnh này làm giật mình, các cấm vệ ào ào xông tới, dìu Triệu Uyên lảo đảo đứng dậy bảo vệ.

    Chu Phỉ giơ tay chắn Ưng Hà Tòng ra sau, nhìn hắn ta đầy cảnh giác, nhưng lại cảm thấy Ân Bái phảng phất như đang cười.

    Chu Phỉ thử thăm dò đi về trước vài bước, đứng trước mặt Ân Bái.

    Ân Bái hình như nhận ra nàng, cố duỗi cái tay còn lại, chỉ vào Chu Phỉ, rồi lại khó khăn vòng một vòng cung chỉ về mình.

    – Ngươi.. ngươi gì?

    Chu Phỉ cau mày khó hiểu, thấy Ân Bái run rẩy giơ móng vuốt, cứ chỉ vào chính mình, lòng nàng chợt lóe lên một ý nghĩ, thử thăm dò:

    – Ngươi muốn nói ngươi là.. Ân Bái?

    Ân Bái chấn động mạnh toàn thân, vô thức co giật giãy giụa trên đất như cá chết, nhưng ánh sáng trong mắt lại hừng hực.

    Chu Phỉ cúi đầu nhìn hắn ta, ngẫm nghĩ rồi nói:

    – Ngươi tên Ân Bái, con của Ân Văn Lam, người duy nhất may mắn sống sót của Ân gia trang, được Bắc đao Kỷ Vân Trầm nuôi lớn, xuất thân từ..

    Nàng ngừng nói, thấy Ân Bái không biết lấy từ đâu ra một thanh vỏ kiếm dính đầy vết máu, từ từ đẩy về phía Chu Phỉ nửa tấc.

    Chỉ là một cái hộp đựng kiếm, mà Sơn Xuyên kiếm chết vì nó, Thanh Long chúa chết vì nó, Xung Vân đạo trưởng cũng chết vì nó.

    Ân Bái bảo vệ cái vỏ kiếm đầy hiềm nghi ấy cả đời, đến nay dường như cuối cùng cũng hiểu, nó không phải là đồ của hắn ta.

    Chu Phỉ hơi dừng lại:

    –.. xuất thân từ..

    Bàn tay như khung xương ấy chợt buông thõng, đập làm bay lên một vòng bụi nhỏ.

    Chu Phỉ:

    –.. danh môn chính phái.

    Ánh sáng điên cuồng trong mắt Ân Bái và vết máu nơi khóe môi cùng ảm đạm, không biết có nghe hết câu "cái quan định luận" (1) của nàng không.

    (1) Cái quan định luận: Lời nhận xét, bàn luận về một con người khi người ấy chết.

    Chu Phỉ ngẩn ngơ nhìn thi thể không còn giống hình người ấy, lòng nhất thời không biết có cảm nghĩ gì, Ưng Hà Tòng đẩy nàng ra, vội lao tới trước thi thể Ân Bái, không biết lấy từ đâu ra một cái bình nhỏ đặc chế, không hề bận tâm tới "người chết là lớn nhất", dùng đao khoét tim Ân Bái, một luồng máu đen tanh hôi lập tức tuôn ào ạt vào trong bình nhỏ.

    – Đây.. đây là thiên hạ chí độc – Niết Bàn cổ.

    Ưng Hà Tòng nhảy dựng lên tại chỗ, giơ cái bình nhỏ bốc mùi kỳ dị kia lên cho Chu Phỉ xem, trên gương mặt nhếch nhác của hắn như đốt lên một đốm lửa:

    – Mau lên! Không phải cô tự xưng mình học được "âm dương nhị khí" gì đó của Tề môn sao?

    Chu Phỉ lẳng lặng nhìn hắn, không nhúc nhích.

    Ngũ quan lục giác của nàng nhạy cảm cỡ nào, tiếng tuyết rơi trong chu vi mấy trượng nàng còn nghe rõ rành rành, sao không biết người ấy sớm đã không còn hơi thở chứ.

    Ưng Hà Tòng nắm lấy bả vai, hét to vào tai nàng:

    – Mau lên! Cô đờ ra đó làm gì!

    Chu Phỉ rút tay mình ra, cúi đầu tránh ánh mắt hắn, nhỏ giọng nói:

    – Muộn rồi.

    Ưng Hà Tòng sững sờ chốc lát.

    – Ta..

    Chu Phỉ khẽ mím môi:

    – Bỏ đi, xem như số mệnh vậy, không có gì nuối..

    Ưng Hà Tòng chưa đợi nàng nói xong đã quát to ngắt lời nàng:

    – Ta là đại phu, ta còn chưa nói muộn mà!

    Hắn kéo Chu Phỉ lại chỗ Tạ Doãn:

    – Ta là truyền nhân chính tông của Đại Dược cốc, Dược cốc của ta có năng lực khởi tử hoàn sinh, ta nói chữa được là chữa được!

    Chu Phỉ:

    – Ưng huynh..

    – Hắn trúng Thấu Cốt Thanh lâu cả 10 năm, lạnh hơn người khác, hơi thở cũng yếu hơn người khác, thì sao chứ? Cô chưa từng nghe nói người cũng bị đóng băng sao?

    Bước chân Chu Phỉ hơi lảo đảo, nàng muốn nói với Ưng Hà Tòng, năm xưa khi ở ngoài thành Vĩnh Châu, nàng buột miệng mắng Đại Dược cốc "chỉ là hư danh" là giận cá chém thớt, nói không lựa lời, chứ không phải lời thật lòng.

    Ưng Hà Tòng đẩy thẳng nàng đến trước mặt Tạ Doãn, Tạ Doãn im lặng nằm đó, mặt quay về hướng ban nãy nàng đứng với Thẩm Thiên Khu, khóe môi dường như còn vương chút ý cười.

    Ưng Hà Tòng chợt hỏi rõ từng chữ:

    – Chu Phỉ! Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ của cô đâu?

    Chu Phỉ nghe câu ấy, cuối cùng không khỏi nước mắt như mưa.

    Ưng Hà Tòng hất vạt áo quỳ xuống đất, quyết đoán rạch bàn tay Tạ Doãn, bày hắn ra tư thế ngũ tâm hướng thiên, lại nhỏ cổ độc trí mạng lên:

    – Trước tiên đẩy cổ độc vào kinh thủ huyết âm tâm bào, trực tiếp đưa vào tâm mạch, chỉ có nội lực hai loại khô vinh nương tựa mới có thể đưa cổ độc vào rồi lại đưa ra, cổ độc không vào thì vô dụng, vào rồi không ra được thì mất mạng, tẩy tủy ba lần.. ta nói nè, cô còn sức chứ?

    Sau khi rời khỏi cấm địa Tề môn, Chu Phỉ biết rõ không có hi vọng nhưng dọc đường vẫn không tự nhủ nhẩm đi nhẩm lại nhiều lần phương pháp "âm dương nhị khí trừ độc" mà Lữ quốc sư ghi lại, nghe hắn nói, nàng gần như vô thức làm theo.

    Nghe nói nếu dùng ngoại lực cưỡng chế đả thông kinh mạch người chết thì cũng có thể có chút động tĩnh.

    Cổ độc đầy chai chia ra ba lần được đẩy vào cơ thể Tạ Doãn từng chút một, đến khi không còn thừa một giọt nào, máu đen lại bị ép ra lần nữa, đám Nghê Thường phu nhân cũng không ai dám quấy rối, vây quanh bên cạnh hộ pháp, ngay cả Triệu Uyên cũng không nói gì, chỉ quát bảo đám cấm vệ và quân đội lui hết ra ngoài hẻm nhỏ.

    Cổ độc đầy chai vào thế nào ra thế nấy, nhưng Tạ Doãn vẫn không có chút động tĩnh.

    Trong ngày đông lạnh lẽo mà toàn thân Chu Phỉ như mới nhúng từ nước ra, mồ hôi tuôn ướt đẫm, một cơn gió lạnh thổi qua, nàng mờ mịt thu công, không tự chủ rùng mình, vốn định đứng dậy nhưng vì mất sức mà lảo đảo, chật vật ngồi phịch xuống đất.

    Nghê Thường phu nhân không nhìn nổi nữa, tiến lên một bước, ôm lấy Chu Phỉ từ phía sau, nhỏ nhẹ nói:

    – Con à..

    Đúng lúc này, Ưng Hà Tòng nói:

    – Đừng nhúc nhích, mau nhìn kìa!

    Chỗ lòng bàn tay Tạ Doãn bị rạch, dưới lớp da trắng nhợt nhạt từ từ có máu chảy ra.

    Đầu tiên là hơi ửng đỏ, sau đó giống như bị thứ gì đó hòa tan, hiện ra từng giọt máu li ti.
     
  9. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 168: Kết​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Ba tháng sau khi Tào Ninh bị bắt, lính liên lạc cấp báo tám trăm dặm đập mở cổng thành Kim Lăng, xông vào nhanh như chớp, người đi đường hai bên thi nhau tránh ra, không ít người hay hóng hớt ló đầu nhìn hướng con ngựa kia lao đi, xôn xao bàn tán.

    Vài canh giờ sau, tin tức như lửa lan trên giấy, nhanh chóng quét tan sương mù sáng sớm đầu xuân, được truyền tai nhau khắp đầu đường cuối ngõ: Vương đô đã bị thu phục.

    Mấy mươi năm loạn lạc, rất nhiều người đã chết, đã không thể đợi được ngày này, người còn sống thì tóc mai cũng đã pha sương, hoặc mất người thân, hoặc xa bạn cũ.

    Non sông hoang phế tiêu điều, muôn dân trăm họ chịu nhiều phân ly.

    Một ông lão tóc hoa râm chợt lảo đảo chạy ra đường cái, nằm rạp xuống khóc ròng.

    Ưng Hà Tòng nhìn, dứt khoát đưa tay đóng cửa sổ, đưa một đơn thuốc cho Chu Phỉ trong tiếng người huyên náo:

    – Đổi đơn thuốc này thử xem. Cô thật muốn đi gấp thế à? Người vẫn chưa tỉnh, để hắn tĩnh dưỡng không tốt sao?

    Chu Phỉ nói:

    – Đêm dài lắm mộng. Dù sao ai cũng thấy Ân Bái giao vỏ Sơn Xuyên kiếm cho ta, "vị kia" trước mắt nhờ cha ta đánh lại giang sơn cho ổng, đám bị thịt bên người lại không làm gì được ta, ta tới lui ra vào vẫn xem như trót lọt, nhưng dây dưa nữa thì khó nói lắm.

    Ưng Hà Tòng nhịn hồi lâu vẫn không nhịn được bản tính chua ngoa đanh đá, xỉa xói nàng một câu:

    – Cô mà sợ ổng à?

    – Sợ chứ, sao lại không sợ?

    Mặt Chu Phỉ không cảm xúc:

    – Lỡ ổng đi tìm chết mà phạm vào đồ của ta, ta chắc chắn sẽ không tha cho ổng giống mấy đại hiệp vì nước vì dân như bọn ông ngoại ta đâu, lỡ ta đâm ổng ba đao sáu lỗ, há chẳng phải là phá hủy khổ tâm nhiều năm của mọi người ư? Vậy sao ta an tâm được chứ?

    Ưng Hà Tòng:

    –..

    Chu cô nương từng gác đao lên cổ hoàng đế, sau đó mấy lần trắng trợn kháng chỉ ngó lơ đế vương triệu kiến, bây giờ còn định không thèm nói tiếng nào bắt cóc Đoan vương điện hạ suýt trở thành thái tử đi.. nghe nói một loạt hành động có thể xưng là "yêu nữ" hắc đạo này của nàng suýt khiến Mộc Tiểu Kiều xem như tri kỷ.

    Ưng Hà Tòng luôn tưởng là nói điêu quá mức, bây giờ xem ra có khi là thật chứ chẳng chơi.

    Hắn hỏi:

    – Nếu thật.. cô thật dám coi trời bằng vung mà hành thích vua à?

    Chu Phỉ không trả lời thẳng, chỉ trầm mặc một lát, nói:

    – Quá nhiều người mệt mỏi vì danh tiếng, nhất cử nhất động đều nằm trong toan tính của người khác. Ngươi đoán xem tại sao Lương Thiệu lại tìm những kẻ không chính không tà như bọn Mộc Tiểu Kiều làm "nhân chứng" cho Hải Thiên Nhất Sắc? Quân tử sợ tiểu nhân, tiểu nhân sợ lưu manh, đơn giản vậy thôi.

    Ưng Hà Tòng:

    – Nhưng..

    – Nhưng Lương Thiệu không hề muốn bảo toàn tính mạng cho những quân tử kia, thậm chí kẻ ông muốn giết người diệt khẩu nhất chính là bản thân ông, nhưng ông lại lợi dụng bọn lưu manh và hoa văn sóng nước chỉ có ý nghĩa tượng trưng dệt nên một bệnh đa nghi khổng lồ, để sau khi ông chết nhiều năm mà Triệu.. vị kia không mảy may dám chệch khỏi chính kiến do ông để lại, đủ thấy ông đã thành công. Bây giờ khắp nơi vẫn đang lan truyền khúc hát "Bạch cốt truyện" mà vị kia không dám công khai cấm, vừa không tìm được thi thể Lương Thiệu vừa không tìm được hoa văn sóng nước.. ha ha, cũng phải cân nhắc chứ.

    Chu Phỉ lắc đầu cười, thu lại đơn thuốc mà Ưng Hà Tòng đưa cho, quơ quơ với hắn:

    – Đa tạ, ngươi có dự tính gì?

    Ưng Hà Tòng:

    – Ta đã đáp ứng lời mời của Dương huynh, đến Kình Vân Câu sống một thời gian, học hỏi với người đồng đạo nhiều hơn.

    – Tốt quá, xem như Đại Dược cốc dọn tới Nam Cương, hợp làm một với Tiểu Dược cốc, sau này đỡ phải phân lớn nhỏ gì nữa, để các hậu bối sinh sau đẻ muộn đỡ phải khốn đốn.

    Chu Phỉ:

    – Núi xanh còn đó, nước biếc chảy dài, tương lai có đến Thục Trung, ta mời ngươi uống..

    Nàng vốn muốn nói "mời ngươi uống rượu".

    Ai ngờ Ưng Hà Tòng lại hất mặt lên tại chỗ, nói:

    – Rượu làm tổn hại đến khứu giác và vị giác, ta không uống rượu, chỉ nếm thuốc.

    Chu Phỉ nói không thiện ý:

    – Ờ, vậy ngươi khỏi tới.

    Nói xong, nàng xách Hi Vi, xoay người rời khỏi tửu lâu nhỏ trong nỗi hưng phấn huơ tay múa chân của đám đông, dáng người lóe lên liền không còn tung tích. Các đại nội thị vệ phụng mệnh truy theo nàng khó khăn lắm mới đuổi kịp, nhưng còn chưa thấy hôm nay nàng mặc y phục gì thì lại bị lạc mất, thực khóc không ra nước mắt.

    Cách ngày, một chiếc xe ngựa chậm rãi rời kinh, không chào hỏi ai.

    Bên trường đình quan đạo, liễu nhỏ xanh um, thỉnh thoảng có người rề rà lưu luyến tiễn biệt nơi đây, dần dà, xung quanh có các quán trà mọc lên cho khách dừng chân nghỉ lại.

    Một cơn mưa xuân vừa qua, đất đai lầy lội, bên cạnh có người đưa tiễn người thân đang lệ rơi ướt áo, quán trà thành nơi tránh nắng cho các hán tử Hành Tẩu Bang thuộc đội xe ngựa, mấy hán tử mỗi người một bát trà thô, hăng say bàn tán.

    – Cho nên thái tử đó vẫn chưa lập thành! Vì sao vậy?

    – Hầy, thì nói là Bắc Đẩu ám sát bệ hạ nên hỏng thôi.

    – Hỏng vẫn có thể lập tiếp, rõ ràng là Đoan vương điện hạ kiên quyết từ chối không chịu nhận.

    – Chậc, ta còn nghe nói..

    Trong lúc họ nói chuyện, một chiếc xe ngựa từ từ đi qua, Chu Phỉ từ trên xe nhảy xuống.

    Trên đường đâu đâu cũng là nam nhân hôi thối phong trần mệt mỏi, ít khi thấy đại cô nương xinh đẹp, lời tán dóc linh tinh của các hán tử im bặt, cùng nhau duỗi dài cổ ngóng.

    Chu Phỉ bước vào nói:

    – Ông chủ, phiền cho ít nước.. nước lạnh, có gì ăn không? Không kén chọn, gói lại một ít.

    Ngay cả ông chủ quán trà cũng ít khi thấy nữ tử xinh đẹp, vội ân cần lo liệu cho nàng. Chu Phỉ đa tạ, lại quay về xe ngựa.

    Chờ nàng đi xa, mấy người ban nãy tán dóc như thật mới vừa lưu luyến nhìn theo bánh xe vừa nói tiếp:

    – Ta nghe nói Đoan vương điện hạ mắc bệnh nặng, e không sống được bao lâu.

    Hán tử kia tự cảm thấy đã ép giọng xuống rất thấp nhưng Chu Phỉ vẫn nghe được, sắc mặt nàng lập tức ảm đạm, không kìm được trở tay vén màn xe.

    Không ngờ mới nhìn một cái, tay nàng run lên, quăng màn xe trở lại.

    Nàng nhìn tay mình một cách khó tin, qua một lát mới như sợ làm kinh động thứ gì đó, lại vén màn xe lên từng tí từng tí.

    Lần này, nàng xác định mắt mình không bị hoa.

    Người trong xe luôn hôn mê bất tỉnh không biết đã mở mắt từ khi nào, đang mỉm cười nhìn bóng lưng nàng, vừa mở miệng, giọng hắn vô cùng yếu ớt nhưng lời nói lại không chịu đàng hoàng:

    – Sao 20 năm không thấy già gì hết.. nàng rốt cuộc là rong ở sông nào thành tinh thế?

    Chu Phỉ nắm chặt Hi Vi trong tay, nhất thời không thốt nên lời.

    Tạ Doãn hỏi:

    – Tuyết Kim Lăng tan rồi à? Cuối cùng ta cũng thấy hơi ấm áp lại rồi.

    – Ừ, xuân đã về.

    HOÀN
     
  10. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 169: Ngoại truyện 1​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Chu Phỉ vừa về cái rột, ngay cả nước cũng chưa kịp uống đã bị đại đương gia gọi đi.

    Lý Cẩn Dung làm việc gọn gàng, không nhiều lời thừa thãi, chỉ hất cằm về phía bàn, nói với Chu Phỉ:

    – Phiền toái con chuốc lấy, tự đi mà giải quyết.

    Chu Phỉ:

    –..

    Nàng bước tới lật thử, thực muốn điên. Trên bàn nhỏ để một xấp dày toàn là chiến thư, chưa kể đủ loại kiểu chữ con nít xiêu vẹo và chữ viết sai của đại hiệp, thì mấy chiến thư này có chung một kiểu, giống như cả đám đều nhờ cùng một tiên sinh viết.

    Một Dương Cẩn yên tĩnh thì có hàng ngàn hàng vạn "Dương Cẩn" khác chờ ngoài cổng núi.

    Chu Phỉ không nhịn nổi nữa:

    – Mẹ, 48 trại có thể lập lại quy củ người không liên quan không được vào không?

    Lý Cẩn Dung đưa tay chỉ nàng:

    – Bớt nói nhảm.

    Chu Phỉ đành kẹp xấp chiến thư dưới nách, nổi giận đùng đùng đi xuống núi.

    Các "đại hiệp" tới khiêu chiến kỳ thực không nhiều, phần lớn là nghe ngóng được nàng không có nhà nên mới chạy tới đưa chiến thư, đưa xong là chạy về khoác lác với người khác "ta đây từng một mình khiêu chiến Nam đao, chậc, dọa cho nàng ta không dám ứng chiến luôn".

    Nhưng mấy kẻ ngốc thật thà cũng không phải ít, chẳng hạn năm vị đợi dưới núi này.

    Sư huynh canh gác thấy nàng thì cười hì hì nói mát:

    – A Phỉ à, vừa về hả? Huynh cùng họ đợi muội hết hai cái nửa tháng rồi đấy!

    Chu Phỉ liếc xéo huynh ấy.

    Nàng vừa lộ diện, năm "đại hiệp" khiêu chiến ào ạt đứng dậy, đầu tiên là dùng ánh mắt khó tin đánh giá đại cô nương không lưng hùm cũng chẳng eo gấu trước mặt chốc lát, vài tiểu thanh niên đỏ mặt, những câu vốn học thuộc sẵn suýt chết non trong bụng, hồi lâu mới có một người lắp ba lắp bắp nói:

    – Các.. các hạ.. không, cô nương, cô chính là Nam đao tự tay giết bảy.. bảy đại Bắc Đẩu sao?

    – Bảy Bắc Đẩu, có một người ta căn bản chưa từng gặp đã rơi đầu, hai người bị người của chúng chó cắn chó hại chết, còn hai người bị kẻ thù tìm tới cửa làm thịt, một người đi ám sát hoàng đế, bị mấy vị tiền bối liên thủ bắt lại, đã bị trảm, chỉ có một người đầu bị úng nước, võ công kém nhất, nghe đồn là nhờ quan hệ bám váy nên mới có chân trong Bắc Đẩu, là do ta giết – còn là ngay lúc ông ta khinh địch.

    Năm đại hiệp nhìn nhau chốc lát, có ba người không giữ được nét mặt, cúi đầu nói với nàng "đắc tội rồi", rút khỏi vòng chiến, chân bỏ đi như bôi dầu.

    Vì không hiểu sao mọi người lại cho rằng, một cô nương tuổi tác không lớn, nếu không phải tướng mạo kỳ dị như dạ xoa thì võ công thông thường đều không quá lợi hại. Người gặp được Chu Phỉ sẽ tự động nghi ngờ lời đồn đại trên giang hồ về "Nam đao" là không thể tin hết, kế đó nghe nàng nói thì rất nhiều người đều tin chắc suy đoán của bản thân "Nam đao chỉ là lời đồn nhảm" không chút nghi ngờ, tới mức thường xuyên bỏ qua câu "chỉ có một người.. là do ta giết", cũng không ai muốn đi truy cứu vì sao nàng lại rõ như lòng bàn tay về nguyên nhân cái chết của đám Bắc Đẩu.

    Cứ thế, những người có chút tên tuổi trong giang hồ và những người tuổi tác hơi lớn đều sẽ tự phụ thân phận mà không động thủ với nàng nữa.

    Loại thành kiến khó hiểu này khiến nàng bớt đi không ít phiền toái, may mà Chu Phỉ không quá để ý người khác nhìn nàng thế nào.

    Dẫu sao đao của một người có sắc bén hay không, kẻ địch biết là đủ rồi.

    Chu Phỉ dùng miệng lưỡi và khuôn mặt giải quyết ba người, còn lại hai người, một người cảm thấy mình đến cũng đến rồi, không mài giũa tí thì uổng sức trẻ chạy không một chuyến, còn một người trông ngốc nghếch giống người phiên bang như Dương Cẩn. Chu Phỉ dùng thời gian một nén nhang, Hi Vi còn chưa ra khỏi vỏ đã giải quyết xong hai người này – hai vị "đại hiệp" một người bị đập mẻ nửa cái răng cửa, một người bị vỏ kiếm chọc vào bụng, ói chết đi sống lại.

    Chu Phỉ hờ hững chắp tay, khách sáo qua loa:

    – Đa tạ, vào trong trại ta uống chén trà không?

    Hai vị đại hiệp chạy trốn còn nhanh hơn ba vị lâm trận lùi bước trước đó, nháy mắt liền không còn bóng dáng.

    Chu Phỉ chán ngắt thở dài, cúi đầu đi vào trại, cảm giác dạo này đại đương gia luôn cố ý kéo nàng đi.

    Thái độ của Lý Cẩn Dung là "người tới là khách", chịu nể mặt cho Đoan vương điện hạ dừng chân ở 48 trại mà không có bất kỳ dị nghị gì. Một mặt bà chưa bao giờ thể hiện rõ ràng sự bất mãn của mình, mặt khác lúc sai Chu Phỉ đi làm này, lúc sai Chu Phỉ đi làm nọ, đại đương gia lên cơn thì ngay cả loại việc nhảm ruồi vốn nên giao cho Lý Thịnh như đi tặng quà mừng thọ bạn cũ cũng giao cho nàng, cứ không cho nàng rảnh rỗi để có tiếp xúc gì với Tạ Doãn.

    Chu Phỉ thầm nhủ: "Không biết lần này có thể cho mình ở nhà được mấy ngày đây."

    Đúng lúc này, phía sau nàng chợt có người ho khẽ một tiếng, cố ý giả giọng:

    – Các hạ chính là Nam đao tự tay giết bảy đại Bắc Đẩu sao?

    Chu Phỉ giật mình, với công lực của nàng mà không hề nghe thấy người phía sau tới gần khi nào!

    Tay cầm đao của nàng đột nhiên siết lại, quay phắt đầu qua, thấy một người quen thuộc đầu đội nón rộng vành, tay cầm một cái quạt "Đời người chẳng được trăm năm", mỉm cười dùng quạt đẩy nón lên, nở nụ cười ló răng. Chưa đợi Chu Phỉ đáp, hắn liền xoay người, bắt chước tư thế đứng không hiếu khách của Chu Phỉ, ngửa đầu lên, hắng giọng, thao thao bất tuyệt nói lại đoạn ban nãy của nàng không sai một chữ.

    Chu Phỉ:

    –.. Sao chàng lại ở đây?

    Tạ Doãn cười nói:

    – Ta chủ động xin ra trận, xuống núi giúp đại đương gia quản lý sản nghiệp dưới chân núi.

    Vẻ mặt Chu Phỉ nghi hoặc, không hiểu sao hắn lại ăn no rửng mỡ đi tìm việc để làm.

    Tạ Doãn vẫy tay với vị sư huynh gác cổng tò mò nhìn sang bên này, lại nhỏ giọng nói:

    – Ta không ở trong trại cũng tốt cho nàng có thể ở trong trại yên ổn được vài ngày. Cũng tiện cho ta ở dưới chân núi thần không biết quỷ không hay chặn đường tài lộ của người khác, đúng không? Đi.

    Chu Phỉ nghe mà sững sờ, vô thức hỏi ngược lại:

    – Về nhà?

    – Về cái quỷ á!

    Tạ Doãn nắm tay nàng, bay vút đi.

    Tay hắn vẫn hơi lạnh hơn người bình thường nhưng không còn là người băng nữa, "chạy mất dép" đại pháp xuất thần nhập hóa, nghiễm nhiên cao hơn trước đây một bậc.

    Chu Phỉ vừa mới nói chữ "đợi" thì đã bị hắn kéo đi hơn mấy trượng.

    Từ sau khi 48 trại đại loạn đã qua mấy năm, đất đai cháy trụi đã nhú chồi non, vết thương khắc sâu đã đóng vảy, cũng đủ cho nơi này lại tụ tập hơi người mới, khiến những trà lâu tửu quán đã đóng cửa dần dần khai trương lại, còn mời lão tiên sinh kể chuyện trước đây về.

    Đặc biệt là sau khi Tạ Doãn tiếp quản, gần như đều có chút tươi tốt phồn vinh.

    – Đi đâu?

    Chu Phỉ hỏi:

    – Ta không muốn nghe mấy tiểu khúc xàm của chàng đâu.

    Từ sau khi định cư ở Thục Trung, "Thiên Tuế Ưu" tiên sinh hễ rảnh rỗi là thường xuyên linh cảm dạt dào, viết vài đoạn cho người dưới núi hát, dần dà tụ tập cả đám người hâm mộ, sắp tự lập thành gánh hát của riêng mình, hát đến mức Thục Trung dường như sắp ngang vai ngang vế với cả Vũ Y ban. Chu Phỉ đoán Lý Cẩn Dung chướng mắt Tạ Doãn, không phải không có lý do ở mặt này.

    Tạ Doãn không trả lời, tự đưa nàng tới một cửa tiệm nhỏ.

    Chu Phỉ ngạc nhiên:

    – May đồ?

    – Ừ.

    Tạ Doãn quen đường quen nẻo đưa tay gõ cửa, thò đầu nói:

    – Vương thẩm, may xong chưa?

    Thợ may già đều không thẳng lưng lên được, lúc làm việc, đôi mắt già cả phải kê sát vào mũi kim mới có thể may, bà thấy Tạ Doãn thì rất vui vẻ:

    – Tới rồi à? Tốt, tốt!

    Bà vừa nói vừa chạy vội vào, lát sau bê từ sau tấm bình phong ra một xấp y phục đỏ chói mắt, Chu Phỉ sững sờ, thấy bà thợ may già đứng trước mặt nàng, rung mở đồ ra – là một chiếc váy đỏ rực như lửa.

    – Vị công tử này thật tinh mắt, may đồ cho cô nương đây, đẹp lắm, mau xem nè.

    Chu Phỉ chợt giống như bị bỏ thuốc câm, không nói tiếng nào đứng đờ ra đó, ngoan ngoãn cho bà thợ may cầm cái váy ướm tới ướm lui trên người nàng.

    Bà thợ may nắm tay nàng nói:

    – Nếu có chỗ nào không vừa thì đưa lại cho Vương thẩm sửa nhé.

    Chu Phỉ còn chưa nói gì, Tạ Doãn bên cạnh liền chậm rì rì chen vào:

    – Không cần, kích cỡ ta liếc mắt qua là biết, không sai đâu.

    Chu Phỉ:

    –..

    Bà thợ may ngẩn người, sau đó bụm mặt cười.

    Chưa đợi Chu Phỉ thẹn quá hóa giận, Tạ Doãn đã chuồn mấy bước ra khỏi tiệm, miệng còn nói:

    – Đừng đánh đừng đánh, ta còn muốn cho nàng biết một chuyện tốt nè.

    Chu Phỉ cẩn thận để bà thợ may già giúp nàng gói lại chiếc váy đỏ rồi mới đi ra ngoài hỏi:

    – Chuyện tốt gì?

    Tạ Doãn cười nói:

    – Cha nàng sắp về rồi.

    Chu Phỉ giật mình.

    – Mấy ngày trước, đại đương gia đã tập hợp năm tín vật hoa văn sóng nước với nhau, phát hiện in lên giấy vừa đúng thành một đường vòng cung gợn sóng.

    Tạ Doãn nói:

    – Khác với ấn nhỏ mà các nàng tìm được năm đó từ nhân chứng – chẳng hạn Minh Phong lâu, "hoa văn sóng nước" của nhân chứng không có đường cong. Mẹ nàng đưa tờ giấy in hoa văn sóng nước đó ra ngoài, do đích thân ta đưa đến trạm ngầm, muốn đưa tới kinh thành. Nàng nghĩ xem, đại đương gia không có khả năng vô duyên vô cớ đùa họ chơi, nên ta đoán cha nàng e sắp treo ấn từ quan rồi, muốn xin hoàng đế được tự do.

    Chu Phỉ càng nghe mắt càng sáng, lúc này, một bóng người như chó hoang thoát cương chạy tới, kêu loạn khắp đường:

    – A Phỉ! A Phỉ!

    Chính là Lý Nghiên.

    Lý Nghiên vừa thấy Chu Phỉ và Tạ Doãn đứng bên đường thì vội nói:

    – A Phỉ, đại đương gia bảo tỷ đi..

    Sáu chữ này khiến mắt Chu Phỉ đen lại.

    Lý Nghiên:

    –.. đón cô phụ!

    Chu Phỉ kinh ngạc:

    – Gì? Nhanh vậy?

    Tạ Doãn ở bên cạnh cười:

    – Ta nói sao sáng nay lại thấy chim hỉ thước chứ, không uổng công ta dậy sớm rửa mặt thay y phục, hóa ra là ông trời nhắc nhở ta sắp gặp..

    Chu Phỉ trừng hắn.

    Tạ Doãn ho khẽ một tiếng, nuốt xưng hô phía sau về, đồng thời nháy mắt vô cùng bỡn cợt với nàng, bình tĩnh chỉnh lại áo mũ, đi phía trước:

    – Mời A Nghiên cô nương dẫn đường, chúng ta cùng đi nghênh đón.

    Lúc này, Tạ Doãn tự cho là cuối cùng cũng đợi được cứu tinh e vẫn chưa biết mỗi lần Chu Dĩ Đường nhìn thấy Hi Vi sẽ có sắc mặt gì.

    Ôi, đường của hắn còn dài lắm.
     
  11. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 170: Ngoại truyện 2: Thanh mai trúc mã (1)​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Hồi ấy, 48 trại vẫn chưa gọi là 48 trại mà gọi chung chung là "Thục Trung".

    Thục Trung nhiều núi, nhiều đường nguy hiểm, trước đây có không ít đại hiệp dẫn người nhà tới ẩn cư. Những thứ truyền lại cho con cháu hậu bối đều là gia học, rất nhiều người lười lập môn phái nên họ Lý thì là "người Lý gia", họ Trương thì là "người Trương gia", còn có vài người sống xen vào hoặc họ quá phổ biến thì nói mình là núi nào đó của Thục Trung, chỉ một trường hợp cá biệt là gia chủ có tâm thu dọn mảnh đất nhỏ của mình, đặt một cái tên ra dáng cho môn phái – đó là phái toàn nam nhân thô kệch nhưng nội tâm khá tinh tế: "Thiên Chung".

    Chu Dĩ Đường nhớ, năm ông còn nhỏ, Thục Trung vẫn chưa lắm quy củ. Bất kể bên ngoài mưa gió thế nào, giữa quần sơn vẫn an bình tự do, mọi người đời đời làm hàng xóm láng giềng với nhau, không ít nhà còn có quan hệ thông gia, bởi vậy không có nhiều thiên kiến phe phái, ngược lại giống một thôn lớn dựa vào núi hơn. Nếu có chuyện gì, các gia chủ sẽ tụ tập lại cùng thương lượng, thương lượng không ra kết quả thì đi tìm "trưởng thôn" đứng ra giải quyết.

    "Trưởng thôn" chính là Nam đao Lý Chủy.

    Nhưng kể cũng buồn cười, e chính bản thân Lý Chủy cũng không rõ sao mình lại gánh trọng trách to lớn này.

    Ông ấy là người trông rất hòa nhã dễ gần chứ thực ra không muốn quản nhiều chuyện vặt vãnh lông gà vỏ tỏi như vậy, trừ rèn luyện đao của mình thì bình thường ông ấy cũng chỉ thích ở nhà nấu cơm và chơi với trẻ con. Ngoài hai đứa con của chính ông ấy thì bọn trẻ cả Thục Trung rảnh rỗi đều thích chạy đến Lý gia, hoặc ăn cơm chùa hoặc tụ lại chơi đùa.

    Lý Cẩn Dung lúc nhỏ không thích địa bàn của mình có nhiều đám khỉ nhãi nhép như vậy. Lý Cẩn Dung quậy mấy lần mà không có kết quả, bèn dắt em trai kiếm từng đứa một ở cả Thục Trung đánh cho một lượt, từ đó đánh ra tên tuổi, tự dưng thành vua bọn trẻ, rất có khí thế nói một là một nói hai là hai.

    Năm Chu Dĩ Đường theo Lý Chủy vào đất Thục mới có 8 tuổi, lòng đầy bỡ ngỡ, thấy trước mắt là núi xanh nhìn không thấy điểm cuối và đường hẹp trải dài quanh co khúc khuỷu, cỏ cây mịt mù vô pháp vô thiên, trong bụi cây thỉnh thoảng có thứ gì đó bò qua dọa người ta nhảy dựng nhưng nhìn kỹ lại thì không thấy gì hết, không khỏi có mùi bí hiểm. Dọc đường trời mưa hay nắng ráo hoàn toàn không có quy luật, hơi nước luôn lượn lờ bảng lảng giống cảnh người xưa tả "Tiếng sấm rền, mưa mù u ám, Vượn hú đêm, não nuột tiếng kêu" (1).

    (1) Trích "Sơn quỷ" của Khuất Nguyên, câu thơ dịch của Phạm Thị Hảo.

    Ông nỗ lực giấu đi tính nhát gan của trẻ con, bày ra dáng dấp ông cụ non trò chuyện với Lý Chủy, nho nhã lễ độ gọi Lý Chủy là "thế thúc", đường hiểm trở đến đâu cũng cắn răng tự đi, tuyệt đối không muốn Lý Chủy bế. Nếu dọc đường Lý Chủy kéo hay đỡ ông, ông sẽ nghiêm túc trịnh trọng nói đa tạ khiến Nam đao Lý đại hiệp quen nhìn bọn trẻ lỗ mãng trong núi cảm thấy rất đau đầu.

    Đi không biết bao lâu, Lý Chủy mới quay đầu cười với ông:

    – Tới rồi.

    Lý Chủy nói xong không lâu, quả nhiên nhanh chóng có dấu vết con người, các thiếu niên chia nhóm luyện thương trên đất trống, vừa luyện vừa gào thét chấn động đến mức chim trong núi bay loạn xạ, thấy hai người họ đi qua, bọn trẻ liền cầm trường thương chỉnh tề, đồng thanh hô:

    – Chào Lý thúc ạ!

    Tiếng chào này còn khí thế dữ dội hơn bọn nha dịch trong phủ nha hô "uy vũ", chấn động khiến tai người ta đau, Lý Chủy đành dở khóc dở cười khoát tay với chúng.

    Tiến về trước nữa thì gặp mấy nam tử ăn mặc như tiều phu mỉm cười hàn huyên với Lý Chủy, "các tiều phu" ai nấy đều xắn ống quần ống tay áo, đeo cái gùi to cao bằng nửa người, trông vừa chất phác vừa hiền lành, sau đó Chu Dĩ Đường vừa quay đầu thì mắt mở trừng trừng nhìn "tiều phu chất phác" lần lượt nhảy lên vách núi cứ như mọc cánh sau lưng, vài người điểm nhẹ xuống đất, nháy mắt liền biến mất trong núi. Chưa đợi Chu Dĩ Đường kinh ngạc xong thì lại thấy một phụ nhân được mấy đứa trẻ vây quanh, phụ nhân đó mặt mũi hiền từ phúc hậu, đang lấy bánh kẹo trong giỏ trúc nhỏ ra chia cho đám trẻ, khiến người ta nhìn là cảm thấy thân thiết, nhưng liền sau đó, trong tay bà đột nhiên có ánh kiếm lóe lên, Chu Dĩ Đường chưa kịp làm rõ đó là gì thì ánh sáng cực nhỏ kia đã thu về trong vỏ – trên cây bên cạnh có một con bò cạp chết rơi xuống.

    Chu Dĩ Đường vốn sống trong gia đình phú quý vì ủng hộ tân pháp mà bị đấu tranh đảng phái biến ảo khôn lường trong triều liên lụy, cửa nát nhà tan.

    Ông xuất thân tiểu thiếu gia, từ nhỏ chỉ đọc tứ thư ngũ kinh, chưa bao giờ tiếp xúc với người trong võ lâm bay tới bay lui, vừa vào Thục Trung, ông quả thực giống như bước vào thoại bản giả tưởng, nhìn chim thú gì cũng cảm thấy mới mẻ, cứ tưởng rằng chúng nó cũng thân mang tuyệt kỹ.

    Bỗng nhiên, Lý Chủy ngẩng đầu nói:

    – Cẩn Dung, lại nghịch rồi, còn không xuống đây!

    Chu Dĩ Đường giật mình, nhìn theo ánh mắt Lý Chủy thấy trên một cây lớn cao mấy trượng có một đám cành lá rậm rạp sột soạt chốc lát, sau đó tách ra làm hai, thò ra một cô bé con.

    Cô bé trông còn nhỏ hơn Chu Dĩ Đường, khuôn mặt vô cùng non nớt, trừng to đôi mắt hạnh, từ trên cao nhìn xuống.

    Chu Dĩ Đường căng thẳng, vô thức ưỡn thẳng đôi vai vốn đã đoan chính, tiếp đó, trong lòng lại không khỏi lo lắng, sợ cô bé ngã từ trên cao xuống.

    Lý Chủy đưa tay với cô bé:

    – Cha về rồi, mau xuống đây gặp Chu ca ca của con nè.

    Cô bé nghe tiếng, hình như bỗng dưng sinh hờn dỗi, ngó lơ, xoay người tự nhảy xuống.

    Chu Dĩ Đường không khỏi kinh ngạc kêu ra tiếng, nhưng thấy cô bé bỗng lơ lửng giữa không trung, sau đó mũi chân nhẹ nhàng móc lấy chạc cây hơi thấp, quen thuộc và xinh đẹp hạ xuống một cành cây khác, quay đầu hơi nhạo báng liếc tên thư sinh yếu ớt thiếu trải đời là Chu Dĩ Đường rồi xoay người chui vào bụi cây rậm rạp.

    Chu Dĩ Đường ở Lý gia nhưng mới đầu không có cơ hội nói chuyện với Lý Cẩn Dung, ông cũng theo Lý Chủy học võ, có điều vì trước đây không có căn cơ nên chỉ có thể bắt đầu bằng nhận biết huyệt đạo và đứng tấn, không học chung với tỷ đệ Lý thị. Tuy lúc ăn cơm có thể gặp nhưng Lý Cẩn Dung dường như rất ghét nhà mình tự dưng lòi ra thêm một người ngoài, không muốn nhìn ông, Chu Dĩ Đường thuở nhỏ vô cùng nhạy cảm, không dám quấy rầy cô bé.

    Chu Dĩ Đường vỡ lòng sớm, đã học hơn phân nửa tứ thư, nghiễm nhiên có khí chất quân tử thư sinh, cộng thêm tuổi nhỏ nhà gặp biến cố nên thường xuyên hay lo hay nghĩ, chơi không hợp với đám trẻ Thục Trung như khỉ hoang chạy khắp núi đồi. Trừ thời gian học nghệ với Lý Chủy thì đa số thời gian ông đều vùi trong phòng mình đọc sách, thỉnh thoảng nghe tiếng ồn ào, nhìn qua song cửa sổ, ông thấy cô bé nhỏ nhắn mặt không kiên nhẫn bị cả đám trẻ vây vào giữa, hoặc gọi cô bé đi chơi, hoặc thử tay nghề trong sân.

    Lòng Chu Dĩ Đường thoáng hâm mộ nhưng chỉ dám lẳng lặng nhìn từ xa xa, ông đã nghĩ vô số câu mở đầu nhưng lại bị chính mình bác bỏ vô số lần, cuối cùng vẫn không dám đến bắt chuyện với cô bé ấy.

    Chẳng mấy chốc, Chu Dĩ Đường đã ở Thục Trung – nơi mênh mang xanh mướt hoang sơ hoàn toàn không hợp với ông – hơn hai tháng, đồng thời bất giác bị đám trẻ trong núi ghi thù: Dựa vào đâu bình thường chúng tới đều phải nhìn sắc mặt Lý lão đại mà cái thằng ẻo lả dị hợm này lại có thể ngày ngày ở nhà Lý thúc?

    Bọn trẻ hư bắt đầu nung nấu ý đồ xấu, phái một người chạy tới trước cửa sổ của Chu Dĩ Đường lừa ông, nói "buổi tối họ định đi du lịch núi hoang, bắt chim ăn", rủ ông đi cùng.

    Chu Dĩ Đường không có bất kỳ hứng thú gì với việc cùng đám khỉ lóc chóc đi gieo vạ cho chim, vốn định mở miệng từ chối khéo nhưng lời đến bên miệng lại bỗng dưng đổi thành:

    – Lý cô nương cũng đi à?

    Thằng nhóc quậy phá ấy sững sờ, cả buổi mới phản ứng lại "Lý cô nương" là ai, bị xưng hô sến súa đó làm cười suýt té nhào từ trên tường xuống, luôn miệng nói:

    – Đi! Đi chứ! Sao thiếu Lý lão đại của chúng ta được?

    Chu Dĩ Đường ma xui quỷ khiến đồng ý.

    Đây đúng là một trong những vết nhơ lớn nhất trong cuộc đời của Cam Đường tiên sinh tài trí vô song mà nhiều năm sau nhớ lại, ông vẫn thấy khó tin, cảm giác mình lúc đó chắc bị ma ám, ngay cả loại bẫy cẩu thả sơ sài như vậy mà cũng mắc.

    Hôm đó đúng lúc Lý Chủy không có nhà, khi màn đêm buông xuống, Chu Dĩ Đường ra ngoài theo thời gian đã hẹn trước với thằng nhóc quậy phá kia. Ông nghe nói Lý Cẩn Dung sẽ đi cùng nên không kìm được dạo tới dạo lui trước cửa phòng cô bé, muốn tìm lý do đi cùng, ai ngờ Lý Cẩn Dung mãi không xuất hiện, mà ông thì nhát gan, không dám bước tới gõ cửa, bị thằng nhóc kia giục kéo đi.

    Chu Dĩ Đường không dằn lòng được, nói:

    – Không phải nói là cô ấy cũng đi..

    Bọn nhóc tinh ranh trong núi hơi có tí khôn vặt, vừa nhìn là biết tiểu thư sinh không dám nói chuyện với Lý Cẩn Dung, liền đảo mắt, cố ý nói:

    – Lý lão đại còn có chuyện khác, lát mới nhập bọn với chúng ta.. hay là ngươi đi nói với cô ấy một tiếng?

    Quả nhiên, sau khi nghe câu đó, tiểu thư sinh lập tức ỉu xìu, không dám phát biểu dị nghị gì nữa, chớp mắt liền bị kéo đi.
     
  12. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 171: Ngoại truyện 3: Thanh mai trúc mã (2)​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Họ vừa đi thì có một cái đầu nhỏ ló ra khỏi tường, gãi đầu khó hiểu nhìn theo, sau đó nhảy xuống như mèo, duỗi người, chậm rãi đi tới trước cửa viện của Lý Cẩn Dung, kéo âm dài đầy nước mũi kêu:

    – Tỷyyyy..

    Đó là Lý nhị lang Lý Cẩn Phong, kỳ thực chỉ sinh muộn hơn Lý Cẩn Dung nửa canh giờ, thế mà với Lý Cẩn Dung cứ như chui ra từ hai bụng mẹ.

    Lý nhị lang khỏe mạnh kháu khỉnh, từ nhỏ đã rất biết "giả bộ đàng hoàng", lúc người lớn nói chuyện, những đứa trẻ khác đều chê chán mà tự chạy đi, chỉ có cậu quái thai này không nhúc nhích, ở bên cạnh nghe, còn thường xuyên gật gù theo như thật, cứ như người ta nói gì cậu đều hiểu hết vậy.

    Trước năm 5 tuổi, Lý nhị lang từng liên tục là nguồn gây trò cười đứng đầu Thục Trung.

    Mỗi lần Lý Cẩn Dung thấy đệ đệ là nóng ruột muốn đạp lên mông cậu một cú, lần này cô bé đang luyện đao, lười mở cửa cho cậu, chỉ mở miệng hỏi:

    – Gì?

    Lý nhị lang bình tĩnh hít nước mũi mà hít mãi không sạch, đứng ở cửa thủng thỉnh nói:

    – Ờm, đệ mới thấy con mọt sách kia bị Hắc Hổ lừa đi rồi.

    Hắc Hổ là đứa quậy phá có tiếng ở Thục Trung, tướng mạo hơi gầy nhỏ, không uy vũ cường tráng như nhũ danh, tính tình xấu xa bẩm sinh.

    Có lần cậu ta kiếm chuyện với Lý nhị lang, bị Lý Cẩn Dung bắt tẩn cho một trận, trói treo lên vách núi hai ngày, sợ tè ra quần, từ đó đàng hoàng lại được nửa năm. Tiếc là ngày vui ngắn chẳng tày gang, Hắc Hổ dịu một thời gian, nhận Lý Cẩn Dung làm lão đại, sau đó thấy lão đại dường như không thèm quản mình, thế là lại trở mình vùng dậy, tiếp tục gây sóng gió.

    Nào là xúi bẩy tụ tập đánh nhau, nào là gom đám tay sai bắt nạt những đứa không hợp, nào là cướp đồ ăn của trẻ nhỏ.. nhiều lắm, tóm lại là lừa gạt hãm hại, không từ thủ đoạn.

    Có điều, chuyện đánh người khác tuy thoải mái hả giận nhất thời, nhưng sau đó bị người lớn biết, đánh người thì chắc chắn sẽ bị ăn đòn, không có lợi, bởi vậy thủ đoạn quen dùng của Hắc Hổ trở thành lừa gạt những kẻ lạc đàn tới núi hoang vắng vẻ – chỗ đó ít người lui tới, địa hình không biết có gì lạ mà rất dễ lạc đường, người lớn thông thường sẽ không đi qua đó.

    Cha Hắc Hổ có nuôi một con chó săn lớn, tướng tá dữ tợn nhưng tính tình vô cùng hiền dịu, lại rất nghe lời, bọn Hắc Hổ lần nào cũng cải trang sẵn cho con chó săn lớn đó, gắn hai cái sừng giả lên đầu, cổ đeo một vòng lông gà, trên mình lại khoác cho nó bộ "y phục" được sửa từ giáp cũ, cải trang thành hình tượng quái thú.

    Chờ khi dẫn người tới chỗ sâu trong núi hoang, Hắc Hổ sẽ bảo một thằng nhóc mai phục sẵn lén lút thả chó ra, để nó lao nhanh, chuyên đuổi theo người mà chúng muốn trừng trị. Đến lúc đó núi hoang đường hẹp, nửa đêm không người, kêu trời trời chẳng biết, kêu đất đất chẳng hay, một đứa trẻ vừa sợ hãi vừa lạc đường, phía sau còn có một con "quái vật" kêu gào đuổi theo..

    Cảm giác khỏi phải nói.

    Nghe nói đứa trẻ bị một trận như vậy xong, nhẹ thì sợ đến gào khóc, nặng thì về bị ác mộng cả năm, gan to bằng trời cũng có thể bị dọa vỡ, bách phát bách trúng. Với lại thông thường đều bị dọa đến mơ mơ màng màng, căn bản không lo đi méc nữa.

    Lý Cẩn Dung nghe nhị lang báo tin, cảm thấy rất bất ngờ, hỏi:

    – Tên họ Chu đó ngu thế à?

    Lý nhị lang hỏi:

    – Tỷ không quản sao?

    Lý Cẩn Dung rung trường đao trong tay, nói không thiện ý:

    – Mắc mớ gì đến tỷ? Tìm cha ý.

    Lý nhị lang "ừm" một tiếng, không hề để bụng việc bị tỷ tỷ nhốt bên ngoài, nhấc đôi chân ngắn chạy đi, qua chưa tới một khắc lại quay về, duỗi móng vuốt gõ lên cửa viện, tiện thể lau nước mũi lấp lánh lên đó:

    – Tỷ..

    Giọng Lý Cẩn Dung vọng ra mang chút tức giận:

    – Lại gì nữa?

    Lý nhị lang dùng chân lúc đá lúc không cái hố đất nhỏ trước cửa viện:

    – Cha không có nhà, ra ngoài rồi..

    – Tên mọt sách kia muốn chết thì cứ chết, đừng phiền tỷ!

    Vẻ mặt Lý nhị lang không đổi, chậm rì rì bổ sung nửa câu sau bị ngắt ngang của mình:

    –.. chúng ta có thể đến kho binh khí của cha chơi không?

    Trong viện im lặng chốc lát, lát sau, cửa viện đóng chặt cót két mở ra, Lý Cẩn Dung chưa nói muốn đi, chỉ mất tự nhiên đặt một chân lên ngưỡng cửa, trước tiên đường đường chính chính răn dạy nhị lang:

    – Sao đệ từ sáng đến tối chỉ nghĩ tới chơi thế hả?

    Lý nhị lang chớp chớp đôi mắt to ngây thơ nhìn lại cô bé.

    Lý Cẩn Dung nghĩ rồi khoát tay như thể "rất không muốn" :

    – Bỏ đi, đi thôi.

    Lý Chủy đi ra ngoài lúc nào cũng chỉ đeo theo một thanh trường đao đơn giản, nhưng ông lại có chút sở thích nho nhỏ là thường xuyên sưu tầm vài "binh khí" thú vị.

    Trong kho của ông có quái đao trước sau trái phải đều cong, phần thân như được lăn qua sóng nước; có "mộc côn" bề ngoài giống ô đi mưa bình thường, nhưng vừa đẩy về trước là có thể "nở" ra một đóa hoa đao 78 lưỡi đao; còn có mấy con sóc bằng sắt đâu lưng lại với nhau ngây thơ đáng yêu, cái đuôi quấn vào nhau có thể hoạt động, nếu kéo xuống thì miệng sóc sẽ phun ra hạt sen sắt.. có điều không ai biết là con nào phun nên độ khả thi nó phun vào mặt mình là rất lớn.

    Mấy món đồ vừa kỳ dị vừa có chút nguy hiểm như vậy rất nhiều, bình thường lúc Lý Chủy ở nhà đều không cho tụi nhỏ vào chơi lung tung, chỉ có lúc ông ra ngoài, hai tỷ đệ mới có thể nạy khóa lẻn vào lục lọi.

    Lúc hai tỷ đệ Lý thị lén lút chui vào kho của Lý đại hiệp chơi thì Chu Dĩ Đường đã theo Hắc Hổ ra sau núi.

    Cái đầu nóng lên của ông dần dần bị gió đêm thổi nguội, ông hỏi Hắc Hổ hai lần là "muốn đi đâu" và "Lý cô nương chừng nào đến", thấy thằng nhóc đó toàn qua loa lấy lệ, đôi mắt gian xảo đảo quanh, thường xuyên lén la lén lút đưa mắt ra hiệu cho ai đó, ông đã nhận ra điều khác thường, lại thấy đường càng đi càng hoang vu thì trong lòng đã rõ ràng hơn phân nửa.

    Chỉ là tính cách ông hướng nội, nhận ra cũng không làm ầm lên, Chu Dĩ Đường im lặng đi theo bọn Hắc Hổ một đoạn rồi chợt ngước mắt lên, nhìn chằm chằm Hắc Hổ, thình lình hỏi:

    – Có phải các cậu đều ghét tôi không?

    Lúc này chỉ còn cách chỗ hẹn đồng bọn thả chó khoảng trăm trượng, Hắc Hổ đang thầm xoa tay, chuẩn bị xem trò vui, chợt nghe hỏi vậy, không khỏi sững sờ chốc lát, ngơ ngác hỏi:

    – Hả?

    Đám trẻ bên cạnh vội đưa mắt ra hiệu cho nhau, có hai đứa lặng lẽ ra sau Chu Dĩ Đường, làm khẩu hình "nó muốn chạy" với Hắc Hổ.

    Con ngươi Hắc Hổ xoay chuyển, nhe hàm răng mẻ, cười giả tạo nói:

    – Sao lại vậy chứ? Có phải ngươi không muốn chơi với bọn ta không?

    Chu Dĩ Đường hơi cúi đầu nghe tiếng gió thổi qua giữa núi, cậu bé nhỏ nhắn có lẽ vì bắt chước người lớn quá nhiều nên luôn vương vất khí chất u buồn và trầm tĩnh kỳ lạ, chờ tiếng gió núi nghẹn ngào kéo dài tạm nghỉ, cậu bé mới không sợ hãi không tức giận nói với Hắc Hổ:

    – Từ nhỏ hễ tôi ra ngoài sẽ luôn bị hạn chế, chưa từng chơi với bạn bè đồng trang lứa, tôi mới đến đây, võ công cũng vừa mới học, có lúc muốn cùng mọi người trò chuyện nhưng không biết nên nói gì, chứ không hề cố ý thất lễ.

    Hắc Hổ cười láu cá:

    – Biết rồi, ngươi là thiếu gia nhà đại quan.

    – Ta không phải thiếu gia, cha mẹ ta chết cả rồi.

    Chu Dĩ Đường nhẹ nhàng nói, Hắc Hổ ngẩn người, lại nghe cậu bé nói:

    – Ta từ năm bốn tuổi học vỡ lòng đến nay, mỗi ngày đều phải dậy lúc trời chưa sáng, đi thỉnh an một vòng các trưởng bối, rồi lại đi học sách với tiên sinh, giờ ngọ tiễn tiên sinh đi, nghỉ ngơi chốc lát, buổi chiều phải làm bài tập tiên sinh giao, viết một mớ chữ to, buổi tối cha ta về sẽ gọi ta tới kiểm tra xem cả ngày ta học được gì, rồi lại kiểm tra bài tập, hễ có sơ sót là sẽ lấy thước ra đánh tay ta ba cái, kế đó phải quay mặt vào tường kiểm điểm bản thân nửa canh giờ, kiểm điểm xong đã là đêm khuya. Trừ phi ban ngày viết bài tập tỉ mỉ kỹ lưỡng thì tối mới bớt được khâu "kiểm điểm", có được thời gian gần nửa canh giờ, tiếc là đã quá muộn, không tiện đi quấy rầy người khác, đa phần toàn là tự mình khều sâu chọc chim các kiểu thôi..

    Những lời này của cậu bé khiến đám trẻ mỗi ngày hết ăn lại chơi nghe mà há hốc mồm, nhất thời quay mặt nhìn nhau, không biết nên nói tiếp thế nào. Trong lúc yên tĩnh ngắn ngủi, Chu Dĩ Đường nghe tiếng thở dốc hồng hộc của một loài động vật nào đó cách đấy không xa.

    – Ta luôn nghĩ khi nào mình mới có thể giống những đứa trẻ khác, ban ngày kết bè kết nhóm đi chơi, tối về không cần ngồi kiểm điểm với bức tường.. bây giờ cuối cùng xem như đạt thành tâm nguyện, nhưng cha ta đã không còn.

    Bước chân cậu bé hơi ngừng lại, thần sắc không thay đổi, không chút hoang mang nói tiếp:

    – Hiếm khi thấy mọi người chịu gọi ta ra, dù chỉ là muốn đùa bỡn ta, ta vẫn thấy rất vui.

    Lời cậu bé chưa dứt thì nghe "gâu" một tiếng, hóa ra là đứa dắt chó nghe nửa câu sau của cậu bé, tưởng âm mưu bại lộ, hoảng hốt buông tay, không cẩn thận thả chó ra sớm.

    Con chó lớn được "cải trang" xong có kích cỡ như con ngựa non, lắc lư cái đầu được bọn trẻ gắn lông loạn xạ lên, vui hớn hở lao về phía chủ nhân Hắc Hổ, đám trẻ không ngờ tới biến cố này, quên giả bộ kinh hoảng. Không có chúng tản ra kêu gào hỗn loạn tạo cơn khủng hoảng, nhất thời bầu không khí trở nên gượng gạo kỳ lạ, mọi người ngơ ngác nhìn "quái thú" lao nhanh tới.

    Vừa khéo tối hôm đó ánh trăng rất sáng, chạy tới gần là có thể nhìn rõ "quái thú" lúc la lúc lắc cái đuôi to, chẳng những không đáng sợ, ngược lại còn hơi buồn cười.

    Ngay lúc chó lớn chạy tới trước mặt Hắc Hổ, nó liền đặt mông ngồi phịch xuống đất, thè cái lưỡi dài, nịnh nọt chờ người ta chơi với nó.

    Chu Dĩ Đường hứng thú hỏi:

    – Chó nhà cậu à?

    Hắc Hổ đờ đẫn nói:

    –.. Ừa.

    Chu Dĩ Đường thích thú quan sát nó chốc lát, hỏi:

    – Cho sờ không?

    Hắc Hổ:

    –..

    Tiểu thư sinh "yếu ớt nhu nhược" ấy tiến lên hai bước, thăm dò sờ thử đầu chó, con chó nghểnh cổ kêu "gâu gâu" hai tiếng, thân thiết thè lưỡi liếm cổ tay cậu bé.

    Nửa đêm canh ba, Lý Cẩn Dung lén lút khôi phục "kho binh khí" của Lý Chủy về hiện trạng ban đầu, lại chìa tay về phía đệ đệ vua nước mũi, hạ lệnh cưỡng chế:

    – Lấy ra!

    Lý nhị lang mếu môi, rề rà lấy ống sáo nhỏ Nam Cương có hình rắn giao ra, đúng lúc này chợt nghe ngoài sân có tiếng chó sủa quen thuộc vọng tới, Lý Cẩn Dung vừa quay đầu, Lý nhị lang liền thừa cơ giấu ống sáo đó vào.

    Ngoài viện sột soạt chốc lát rồi trên tường ló ra cái đầu nhỏ, bóp mũi nhỏ giọng gọi vào bên trong:

    – Lý lão đại! Lý lão đại!

    Lý Cẩn Dung:

    – Đây đây, chuyện gì?

    Hắc Hổ không ngờ cô bé ở ngay cửa, bị cô bé đột nhiên lên tiếng làm sợ hết hồn, "ui da" một tiếng ngã từ trên tường xuống.

    Lý Cẩn Dung cau mày, mở cổng viện ra thì thấy người bị Hắc Hổ "lừa" vào núi hoang trừng trị trong truyền thuyết là Chu Dĩ Đường đang đứng trước cổng hoàn hảo không chút sứt mẻ, ung dung dắt con chó ngu nhà Hắc Hổ, còn bọn trẻ quậy phá thì đứng vây quanh, trông rất hòa hợp thân thiện.

    Cô bé liếc mắt qua, Chu Dĩ Đường vội căng thẳng đứng thẳng, cười với cô bé, điềm đạm nho nhã đứng bên cạnh không lên tiếng.

    Hắc Hổ nhảy hai bước tới trước mặt Lý Cẩn Dung, nhanh mồm nhanh miệng:

    – Lý lão đại mau tới đây, cô đoán xem, hôm nay chúng tôi mới xem như biết rõ núi hoang kia, Tiểu Chu ca ca nói nơi đó có kỳ rồi giáp gì..

    Chu Dĩ Đường nói nhỏ:

    – Là có người dùng gỗ đá bày trận pháp kỳ môn độn giáp, lâu ngày đã bị hư hại một phần, chỉ là buổi tối nhìn không rõ, đi bừa vào rất dễ lạc đường.

    – Đúng đúng!

    Biểu cảm của Hắc Hổ y như con chó bị thu phục kia, huơ tay múa chân nói:

    – Ta nói mà, sao người ta cứ vào là choáng váng, may nhờ Tiểu Chu ca ca thông minh, huynh ấy viết viết tính tính, đẩy mấy cục đá là khác ngay.. đúng rồi, tụi tôi còn tìm được một sơn động, lấy cỏ che lại, bên trong có dấu vết con người, lão đại mau theo chúng tôi đi xem xem.

    Lý Cẩn Dung:

    –..

    Mấy ngày trước còn là "mọt sách đáng ghét", qua một đêm liền biến thành "Tiểu Chu ca ca" rồi!

    Chu Dĩ Đường nghênh đón ánh mắt đánh giá của cô bé, hình như hơi đỏ mặt, giấu đầu hở đuôi dời mắt đi, đưa tay gãi gãi cổ con chó bên cạnh.

    Đám trẻ nhân đêm tối dắt chó lên núi hoang, quả nhiên tìm được một hang đá cổ xưa.

    – Ta thấy những dấu vết này đại khái khoảng trăm năm rồi.

    Chu Dĩ Đường kê sát bó đuốc vào, sờ vết xước trên vách, nói xong lại hơi ảo não, vì thực ra cậu chỉ có thể nhìn ra được những vết đó lâu lắm lắm thôi, còn "khoảng trăm năm" thuần túy là thuận miệng bịa ra, gia giáo từ nhỏ đã dạy cậu "biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết", nhưng ở trước mặt Lý Cẩn Dung, cậu luôn không dằn được lắm miệng.

    May mà cậu nói quá giống thật, mấy đứa trẻ ngốc khác không có kiến thức để vạch trần ngay tại chỗ.

    Lý Cẩn Dung sáp lại nhìn, quả quyết:

    – Không phải đao kiếm, vết quá thô, kiểu như rìu.

    Sau gáy Chu Dĩ Đường cứng đờ, cậu đáp hàm hồ một tiếng, hồi lâu mới dám lén lút quay đầu thì thấy Lý Cẩn Dung đã dứt khoát đi xa.

    Sơn động rất sâu, vọng âm kéo dài, có vài dấu vết con người nhưng quả thực quá xa xưa, không biết là vị cao thủ nào gặp nạn lập ra mê trận, dừng chân chốn này, lặng lẽ đến rồi lại lặng lẽ đi, trừ vài vết đao rìu trầm mặc, ngay cả dăm câu vài lời cũng không để lại, thực không có gì đẹp. Bọn trẻ nhanh chóng thấy nhàm chán, Lý nhị lang ngáp một cái, lấy ra ống sáo hình rắn mà mình lén giấu, thổi lúc có lúc không nhưng phát hiện không thổi ra âm thanh gì cả, chán chường nói:

    – Tỷ, chúng ta đi thôi, đệ buồn ngủ.

    Sau sống lưng cô bé bỗng dưng ớn lạnh.

    Chu Dĩ Đường lớn tiếng:

    – Kệ nó đi, chúng ta ra ngoài!

    Lý Cẩn Dung cầm trường đao trong tay, khoát tay với bọn Hắc Hổ, ra hiệu chúng đi trước.

    Bọn trẻ lúc này đã hơi sợ, vội dắt chó lui ra ngoài, Lý Cẩn Dung đi cuối cùng, quay mặt về chỗ sâu trong sơn động, xách đao đi ngược ra.

    Đột nhiên, bó đuốc trong tay cô bé dao động dữ dội, một luồng gió tanh phả vào mặt, Lý Cẩn Dung chưa kịp nhìn rõ bóng đen trước mắt là gì đã giơ trường đao lên chống theo bản năng.

    Sau đó, cô bé bị vật kia đụng phải làm bay ngang ra ngoài, bó đuốc chợt vuột tay, một chuỗi đốm lửa xì xèo đập tới, thứ kia bị ánh lửa làm hơi rụt về sau, cái bóng khổng lồ chập chờn trên vách đá, lộ ra con ngươi híp lại thành một cái khe.

    Bó đuốc rơi xuống đất lăn hai vòng, tắt ngay tại chỗ.
     
  13. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 172: Ngoại truyện 4: Thanh mai trúc mã (hết)​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Đó là một con trăn lớn to cỡ một vòng ôm.

    Theo lý thuyết, Thục Trung hiếm khi có trăn to như vậy, vả lại đa phần đều hoạt động chậm chạp, dù đi săn cũng theo kiểu mai phục ôm cây đợi thỏ, nếu tấn công một đòn không trúng thì sẽ không bám riết đuổi theo.

    Nhưng con cự mãng này như phát điên, bị Lý Cẩn Dung đánh một đao vào mặt, lại bị bó đuốc vuột tay của cô bé đốt mà không hề có ý chùn bước, ngược lại còn nhanh chóng điều chỉnh tư thế, nhanh như chớp há cái miệng to về phía Lý nhị lang, lao tới.

    Lý nhị lang sợ tới mức không quan tâm nước mũi nổi bong bóng, mở to mắt, đưa tay sờ loạn trên người chốc lát, phát hiện trừ ống sáo mình lén lấy ra ngoài thì trên người ngay cả mảnh sắt cũng không có, thấy con trăn lớn tới ngay trước mắt, đôi chân lớn của Lý nhị lang như dính chặt xuống đất, không nhúc nhích được.

    Đúng lúc này, một thanh trường đao bay ngang tới, va vào sườn mặt con trăn, cái đầu to lớn hung hăng bị chệch đi, nó phẫn nộ quay phắt đầu, xoay người đối diện với kẻ thấp kém dám cả gan ngăn nó săn mồi.

    Lý Cẩn Dung phát huy khinh công toàn thân tới cực hạn – dù cho đến nay, tổng cộng cũng chưa luyện được mấy năm, cô bé vọt lên giẫm lên mình con trăn, cảm giác dưới chân trơn không mượn lực được, cô bé vội xoay eo, lảo đảo ngã xuống, hiểm hóc lướt qua cái miệng to đầy gai nhọn của nó.

    Cô bé quay đầu quát đám trẻ bị dọa choáng váng:

    – Còn không mau chạy!

    Lý Cẩn Dung rất ít khi cùng đi quậy phá với bọn trẻ Thục Trung, nhưng có lẽ vì mỗi đứa đều từng bị cô bé đánh nên trong tình huống nguy cấp, bọn trẻ đều vô cùng nghe lời, tập thể vắt giò lên cổ chạy như điên ra ngoài, tuy tuổi còn nhỏ nhưng dẫu sao cũng là hậu nhân danh môn, không hề hỗn loạn.

    Con trăn lớn hoàn toàn bị chọc giận, ngóc cao đầu, thân mình to khỏe quét qua như du long vẫy đuôi. Lý Cẩn Dung vốn chưa đứng vững, chật vật lăn tại chỗ, tránh được nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc, nhiều lần suýt bị trăn quấn lấy. Tư chất cô bé trác tuyệt, luôn tự cao tự đại, lúc này lại bị một con thú ép lăn lộn khắp nơi, trong lòng Lý Cẩn Dung chẳng những không sợ, ngược lại còn đốt lên một ngọn lửa vô danh, cô bé nhảy về trước một bước, nghe tiếng ma sát khiến da đầu tê rần phía sau, cô bé tung người nhảy lên vách sơn động, xoay người, rút đao chém xuống.

    Trường đao trên tay cô bé đụng phải cái miệng há to của con cự mãng, suy cho cùng cô bé vẫn còn nhỏ tuổi, sức lực không đủ, tay nhỏ cầm đao lập tức bị chấn động tét ra, lưng đập mạnh vào vách đá, đau rát. Con trăn lớn da dày thịt béo chỉ rướm tí máu, càng giận không nhịn nổi, sau đó lại há to cái miệng như chậu máu, Lý Cẩn Dung gần như có thể thấy rõ những cái răng không đều trong miệng nó.

    Đúng lúc này, một ánh lửa chợt vút qua, vừa khéo chắn ngang giữa cô bé và con trăn, con trăn thấy lửa thì hơi sợ hãi, ngửa cổ về sau, một cái tay nhân lúc đó thò qua kéo Lý Cẩn Dung, đẩy mạnh cô bé về phía cửa hang.

    Lòng bàn tay kéo cô bé toát đầy mồ hôi lạnh, ngón tay lạnh như đồ sắt để cả đêm, Lý Cẩn Dung không ngờ lúc này còn có người đợi mình, không khỏi sững sờ, ngẩng đầu nhìn thì thấy là tiểu thư sinh mà một ngón tay cô bé cũng có thể đẩy ngã.

    Chu Dĩ Đường không biết lấy từ đâu được hai bó đuốc, ném một bó đi, trên tay còn cầm một bó.

    Cậu siết chặt cổ tay Lý Cẩn Dung, dùng sức đẩy cô bé ra ngoài trước, còn mình thì hơi dịch nghiêng sau cô bé nửa người, dùng nửa người cầm đuốc chắn giữa cô bé và con trăn.

    Tính Lý Cẩn Dung bẩm sinh khác với người thường, gặp phải tình huống đột biến, cô bé rất ít khi hoảng sợ như người khác, dường như cô bé căn bản không có dây thần kinh sợ. Dù theo tuổi tác ngày càng lớn, cô bé có thể dần phán đoán thứ gì mạnh hơn mình, nhưng biết thì biết chứ khi thật sự gặp chuyện thì cảm giác hưng phấn hoặc phẫn nộ luôn chiếm thế thượng phong, cái gì cô bé cũng nóng lòng khiêu chiến.

    Giống như bây giờ, trong thời khắc mấu chốt, cô bé vẫn có thể nhàn hạ dùng ánh mắt vô cùng mới mẻ đánh giá Chu Dĩ Đường.

    Tên mọt sách này là một kẻ mặt trắng ẻo lả, hàng mày thẳng và con ngươi đen nhánh, trắng đen rõ ràng, vô cùng thanh tú, khuôn mặt nhỏ căng ra, môi không còn chút máu, mồ hôi lạnh chảy xuống theo thái dương, khiến Lý Cẩn Dung nhớ tới con mèo rừng con mà cô bé từng bắt, rõ ràng là một cục lông nhỏ run cầm cập mà cứ nơm nớp thò móng vuốt vụng về ra. Thế là không biết có sợi dây thần kinh nào sai sai, cô bé phì cười ra tiếng.

    Chu Dĩ Đường quả thực không biết thần thánh phương nào chống đỡ hai chân mình, con trăn lớn không biết có phải sống quá lâu nên thành tinh hay không, tuy sợ lửa nhưng hình như nó biết đuốc có thể bị dập tắt, nó vừa đuổi theo vừa bổ nhào tới không ngừng nghỉ, gắng dùng gió tạo ra lúc di chuyển để thổi tắt lửa trong tay cậu bé.

    Mỗi lần con trăn lớn lao tới, cậu đều cảm thấy ngọn lửa lắc lư dữ dội sắp xong đời, trái tim đập điên cuồng sắp phá tung sọ não, thế mà trong lúc mấu chốt này, tiểu cô nương không biết bị thiếu dây thần kinh nào kia còn ở đó cười!

    Khoảnh khắc này, trong động rắn này, Chu Dĩ Đường cuối cùng nhìn thấu khuôn mặt thật của Lý đại tiểu thư.

    Cậu dùng sức đẩy Lý Cẩn Dung ra cửa động, từ khi sinh ra đến nay lần đầu tiên nói chuyện với cô bé lại là lúc thở không ra hơi:

    – Cười.. cười cái gì mà cười, còn không mau chạy!

    Lý Cẩn Dung nói:

    – Đồ mọt sách vô lý, chẳng nhẽ khóc thì có thể khóc chết nó à?

    Con trăn to lại lao tới lần nữa, ngọn lửa run dữ dội rồi đột nhiên co lại thành một đốm, tim Chu Dĩ Đường cũng co lại theo, ngửi thấy mùi tanh hôi tởm lợm từ miệng rắn, tay cậu mềm nhũn, cùng lúc đó, Lý Cẩn Dung hất tay cậu ra, sải một bước tới, nắm lấy khe hở trong nháy mắt ấy, lại đưa trường đao trong tay ra.

    Con trăn to rung mạnh, bàn tay bị thương ban nãy của Lý Cẩn Dung lại trào máu, cô bé lùi mấy bước, dựa vào vách đá mới đứng vững, nghiến răng nghiến lợi:

    – Về ta sẽ luyện "Trảm" tự quyết mười vạn tám ngàn lần, phải băm nát đầu con súc sinh này ra hầm canh rắn.

    Chu Dĩ Đường cảm thấy cô bé thực giống một đứa trẻ đi đường bị ngã liền muốn nện cho mặt đất nứt ra một lỗ vậy, bất đắc dĩ nói:

    – Muội muội à, chi bằng trước tiên muội nghĩ xem chúng ta còn về được hay không đã!

    Nhờ một đao đó cản trở nên đốm lửa run lẩy bẩy trong tay Chu Dĩ Đường lại kéo dài hơi tàn hồi sinh lần nữa, cậu bé và con trăn lớn lại bắt đầu giằng co.

    Đúng lúc này, bên ngoài truyền đến một tiếng vang, ánh sáng mạnh chiếu vào cửa động, hóa ra không biết là đứa nào mang theo pháo hiệu dùng để liên lạc trộm được từ người lớn, lúc nãy chạy hoảng lên, giờ mới nhớ ra, sau đó, Lý nhị lang lâm trận bỏ chạy chạy một hồi mới phát hiện tỷ tỷ mình không đuổi theo, bèn vội vàng run rẩy nhấc đôi chân ngắn chạy về, vừa chạy vừa kêu to ở cửa động:

    – Tỷ! Tỷ! Tỷ ở đâu?

    Thằng nhóc xúi quẩy này gọi thôi chưa đủ, có lẽ nghi ngờ mình gây ra động tĩnh chưa đủ lớn, còn ra sức giẫm xuống đất, rồi lại dùng ống sáo hình rắn kia thổi mạnh, ống sáo ban nãy thổi không kêu tiếng nào "không phụ mong đợi mọi người" lúc này kêu một tiếng chói tai có thể đâm thủng màng nhĩ.

    Con trăn lớn trong sơn động như bị làm phép định thân, toàn thân cứng đờ, con mắt màu vàng nhạt với đường sổ thẳng bên mặt, cơn run rẩy trước nay chưa từng có bò lên sau lưng Chu Dĩ Đường, cậu quyết đoán, dùng toàn lực đẩy Lý Cẩn Dung:

    – Mau..

    Con trăn lớn đột nhiên di chuyển, nó ngẩng phắt đầu lên, dường như phát ra một tiếng gầm gừ không nghe thấy, tiếp đó không thèm quan tâm lửa nữa mà cắn xuống. Trong lúc nguy hiểm, Chu Dĩ Đường hết cách, đành ném bó đuốc trong tay, vận may của cậu không tồi, bó đuốc đập thẳng vào mặt con trăn, đốm lửa tung tóe văng vào miệng nó, nó đau đớn giãy giụa thân thể khổng lồ, Chu Dĩ Đường nhân cơ hội liều túm lấy Lý Cẩn Dung vẫn còn muốn xông lên đại chiến ba hiệp với nó, chạy về phía cửa động.

    Lúc này đã gần tảng sáng, nơi cửa động đã có ánh sáng lờ mờ, Chu Dĩ Đường cảm thấy chân không còn là của mình nữa, toàn bộ đều dựa vào bản năng, tiếng sột soạt đòi mạng phía sau càng lúc càng gần.

    Chu Dĩ Đường thấy Lý nhị lang ở cửa động mặt đầy sợ hãi, cùng lúc đó, cơn kình phong đánh úp sau lưng cậu, cậu quay đầu theo bản năng, chỉ nhìn thấy một cái miệng to cắn xuống. Thời khắc ấy, trong đầu tiểu thư sinh ngay cả hai chữ "tiêu đời" cũng không có, đầu óc đầy kinh sử tử tập nửa hiểu nửa không hoàn toàn trống rỗng, cậu chỉ nhớ mình buông Lý Cẩn Dung ra, giang hai cánh tay tê dại, gắng chắn giữa cô bé và con trăn, thậm chí nhắm đôi mắt lại..

    Lý Cẩn Dung không phải loại người sẽ nhắm mắt chờ chết, cô bé khẽ quát một tiếng, lại nhấc đao, nhưng đao chưa kịp đẩy ra, trước mắt liền có ánh đao cực sáng lóe lên lướt qua đầu cô bé, đâm từ dưới lên trên, "phụp" một tiếng nhỏ, đầu con trăn to có vẻ cứng như thành đồng bị một đao ấy đẩy thẳng lên đỉnh hang đá, thân đập vào vách núi, phát ra một tiếng vang.

    Lý Cẩn Dung khó hiểu:

    – Hở?

    Cô bé vẫn giữ nguyên động tác đưa đao ra một nửa, ngẩng đầu nhìn liền thấy gương mặt tức giận xanh lè xanh lét của Lý Chủy.

    Nửa canh giờ sau, hơn phân nửa Thục Trung đều bị đánh thức, các nhà nghe được một đêm kinh hồn này, ai nấy đều lôi con cái và chó nhà mình về làm món "măng xào thịt", Lý Cẩn Dung và Lý Cẩn Phong thì bị Lý đại hiệp mỗi tay túm sau gáy một đứa xách về. Vì Chu Dĩ Đường nhận sai kịp thời, mà Lý đại hiệp lại không có cái tay thứ ba nên tiểu thư sinh tránh được một kiếp, có thể có "tôn nghiêm" tự đi về.

    Về sau mới biết, hóa ra ống sáo mà Lý nhị lang trộm là "sáo gọi rắn", người ở Tiểu Dược cốc Nam Cương dùng nó để điều khiển rắn, Nam Cương xưa nay luôn có cách khống chế rắn, nếu dùng thỏa đáng, có thể gọi rắn trong vòng mấy dặm lại hết, mặc cho sai khiến. Đương nhiên, nếu dùng không thỏa đáng thì chỉ có thể bị rắn nổi cơn phẫn nộ điên cuồng đuổi theo.

    Vì chuyện này mà Lý nhị lang bị Lý đại hiệp đánh đến mức tiếng khóc quẩn quanh ba ngày chưa dứt, suýt bị nước mũi sặc chết, Lý Cẩn Dung thấy tình thế không ổn, nhân lúc đệ đệ gặp xui xẻo liền trực tiếp nhảy lên cây, trốn hai ngày không dám xuống. Chu Dĩ Đường tập võ mới nhập môn, không chịu đòn nổi – thế là biến thành mỗi ngày đứng tấn trên cọc gỗ.

    Trải qua chiến dịch này, Chu Dĩ Đường triệt để thân quen với bọn trẻ Thục Trung, đồng thời cũng triệt để hiểu rõ mình không dám nói gì trước mặt Lý cô nương là điều ngu xuẩn cỡ nào.

    Tiếc rằng ảo giác tốt đẹp về cô bé mắt hạnh lạnh lùng vào lần đầu gặp gỡ đã định là.. hoàn toàn sụp đổ. Editor: Đây chỉ là hết phần "thanh mai trúc mã" thôi nha, chứ truyện còn một ngoại truyện nữa.
     
  14. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 173: Ngoại truyện 5: END​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    – Thật hay giả vậy?

    Chu Phỉ sững sờ, qua một lát mới hơi không yên tâm hỏi:

    – Nhưng Lý bà bà trước nay không phải luôn lười gánh chuyện sao? Mẹ tỷ nói thế nào?

    – Cô cô nói họ muốn làm gì thì làm, chỉ cần đừng đưa người vào 48 trại gây loạn là được.

    Lý Nghiên lách người ngồi chung một tảng đá với Chu Phỉ, hai tay cầm con sò nướng thịt ra thịt, nước ra nước, thổi hai cái rồi đổ hết vào miệng, bỏng suýt trào nước mắt, "ưm ưm" hồi lâu mới run run phun được một câu:

    – Ngon, ngon quá xá, tỷ phu, ngon quá trời quá đất luôn á!

    Tạ Doãn yên lặng ngồi bên đống lửa nướng sò, đây là một công việc tỉ mỉ, một mình hắn nướng không kịp cho hai vị này ăn, bận cả nửa ngày mà bản thân vẫn chưa được con nào, trong tay chỉ còn lại con cuối cùng, vừa định cho vào miệng thì bị tiếng "tỷ phu" thình lình của Lý Nghiên làm cho mở cờ trong bụng, tự động nhường con cuối cùng cho muội ấy.

    Lý Nghiên vui vẻ nhận lấy, không hề khách sáo, chỉ hận miệng không đủ lớn, không thể nhét hết đồ ăn Đông Hải cho vào bụng mang đi.

    Lý Nghiên thỏa mãn ăn xong con cuối cùng, tiện tay ném vỏ xuống biển rồi nhảy xuống khỏi tảng đá, hỏi:

    – Muội truyền lời xong rồi, tỷ, đến lúc đó tỷ đi không?

    Chu Phỉ:

    – Chuyện của Sở Sở, tỷ đập nồi bán sắt cũng phải đi, huống hồ lại không xa.

    Vừa nói xong, Trần Tuấn Phu cách đó không xa vẫy tay với Lý Nghiên, hỏi:

    – Tiểu nha đầu, ăn cá khô không?

    Lý Nghiên nghe nói liền chạy vội qua, bỏ lại tỷ phu tuấn tú và tỷ tỷ càng tuấn tú hơn, không chút do dự lao về phía ông cụ hơn trăm tuổi.

    Năm Nam Bắc nhất thống, Triệu Uyên đổi niên hiệu là "Càn Phong", hiện đang là năm Càn Phong thứ hai, Tạ tam công tử đã trải qua hai năm gian khổ, ôm đồm hết mấy việc lặt vặt không ai muốn quản của 48 trại, cuối cùng mới đổi được Lý đại đương gia mở một mắt nhắm một mắt với hắn.

    Mùa thu năm ấy, Chu Phỉ cùng Tạ Doãn về Đông Hải thăm các sư trưởng và cúng tổ tiên.

    "Tổ tiên" tổng cộng có hai vị, một vị là tiểu sư thúc đã xả thân cứu Tạ Doãn, vị còn lại là Lương Thiệu.

    Thi thể của Lương thừa tướng bị Mộc Tiểu Kiều vô tình làm nổ mất, cả sơn cốc đều thành tro bụi, cuối cùng cát bụi quay về với cát bụi, Tạ Doãn giúp ông lập một mộ y quan đơn giản trên đảo Bồng Lai.

    Lương công khi còn sống oanh oanh liệt liệt, tính hết mọi bề, chết rồi cũng nên được thanh tĩnh.

    Hai người thăm các lão nhân rồi đi quét mộ xong xuôi, vừa toan đi thì Lý Nghiên không mời mà tới, còn mang đến một lời nhắn. Ngô Sở Sở mấy năm nay đi khắp nơi thu thập chỉnh lý di tích các phái, đã hơi có chút thành quả, đúng lúc Lý Thịnh thường xuyên bị Lý Cẩn Dung thả ra ngoài đi liên lạc các nơi, giao du khá rộng, không hiểu sao hắn nảy ý nghĩ đứng ra giúp Ngô Sở Sở phát thiệp mời, định trung thu năm nay tổ chức một hội "dùng võ kết bạn", không chiêu trò gì hết, chỉ nói là mấy năm nay chỉnh lý lại điển tịch khắp nơi, muốn mượn cơ hội này mời mọi người tới uống ly rượu nhạt, ai muốn tới thì tới cho vui, biết đâu lại gặp được bằng hữu cũ và kết giao thêm bằng hữu mới.

    Địa điểm được chọn là Liễu gia trang, lần đầu tiên Lý Thịnh bộc lộ tài năng là lần vây công 18 dược nhân ở Liễu gia trang, kể từ đó, hắn và Liễu lão gia đã thành bạn vong niên.

    Thiệp mời và tin tức do Hành Tẩu Bang giúp tung ra ngoài, vốn tưởng rằng người hưởng ứng rất ít, cùng lắm chỉ có vài bằng hữu cũ tới góp vui, ai ngờ không biết sao lại làm to lên, một truyền mười, mười truyền trăm, hào kiệt tứ phương lũ lượt kéo tới Liễu gia trang, còn náo nhiệt hơn trò hề mà Hoắc Liên Đào năm xưa tổ chức ở thành Vĩnh Châu. Liễu gia trang nhỏ bé đã không đủ an bài, các khách điếm lớn nhỏ ở Tế Nam phủ đều chật kín, đầy đường đều là người giang hồ ngoại hình khác biệt, khiến Lý Thịnh hơi hoảng, bất đắc dĩ mới phái Lý Nghiên đi gọi "Nam đao" Chu Phỉ qua giữ thể diện cho hắn.

    – Chuyện này à, thực ra không bất ngờ.

    Tạ Doãn nói:

    – Nhiều năm nay, trước tiên là núi Hoạt Nhân Tử Nhân, sau đó là bọn Bắc Đẩu, Ân Bái hoành hành ngang ngược, thù hận chất chồng suốt mấy đời, khắp nơi đều là chướng khí mịt mù, khó khăn lắm bọn đại ma đầu mới chết hết, vũng nước võ lâm Trung Nguyên cũng nên hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai. Ca ca nàng luận tâm cơ, luận thủ đoạn, luận xuất thân, luận bối cảnh đều không thiếu gì cả, càng hiếm có là làm người lại khiêm tốn, không quá coi trọng bản thân, nghe nói danh tiếng rất cao trong những người thế hệ trước, ai cũng khen huynh ấy, lần này e là các đại môn phái cố ý thêm dầu vào lửa.

    Chu Phỉ kinh ngạc:

    – Chẳng lẽ họ vẫn muốn nâng huynh ấy thành một Sơn Xuyên kiếm à?

    Tạ Doãn hỏi:

    – Có gì không thể?

    Chu Phỉ luôn cảm thấy hơi kỳ diệu, nàng chưa từng thấy phong thái của Sơn Xuyên kiếm năm xưa, chỉ nghe người này nói vài câu, người kia nói vài câu, rồi từ dăm câu vài lời đó thu được một ấn tượng mơ hồ: Vị tiền bối ấy đức cao vọng trọng, một thanh trọng kiếm trấn trụ toàn bộ yêu ma quỷ quái Trung Nguyên.

    Trong lòng nàng, nếu nói Ân đại hiệp là núi cao ngưỡng vọng, thì gã họ Lý là đống đất vướng chân, nếu nói Ân đại hiệp là thánh thú trấn thủ một phương, thì gã họ Lý là con cún con hoang run cầm cập sủa ăng ẳng.. Tóm lại, ngoại trừ đều là người, đều là nam, hình như không có điểm gì chung, nàng thực hơi khó mà tưởng tượng.

    Chu Phỉ suy tư chốc lát, lo lắng nói:

    – Huynh ấy? Võ công chẳng ra làm sao, chỉ biết khua môi múa mép, lỡ bị người ta ghét hãm hại, ngay cả âm mưu quỷ kế cũng không cần dùng, trực tiếp đánh chết cũng chẳng phải chuyện gì to tát.

    Tạ Doãn:

    –..

    Hèn gì Lý thiếu gia rõ ràng trẻ tuổi nhiệt huyết mà lại có khí chất "siêu nhiên" không xem trọng bản thân, hóa ra là từ nhỏ trưởng thành trong hoàn cảnh hiểm ác thế này.

    Chu Phỉ xoay Hi Vi trong tay một vòng, nói như rất chê phiền:

    – Chậc, ta vẫn nên phái mấy người cho huynh ấy thêm can đảm thì hơn.

    Tạ Doãn vội tận dụng nịnh nọt:

    – Chu đại hiệp vũ nội vô song, thiên hạ vô địch.

    Chu Phỉ luôn cảm thấy câu này nghe lạ lạ, họ Tạ hình như lại đang mỉa mai nàng thì phải, nàng nhìn hắn với ánh mắt nghi ngờ.

    Lúc nàng ngẩng đầu lộ cái cằm nhọn, mắt nửa nhắm nửa mở hơi nhướng lên, là một tiểu mỹ nhân rất không dễ dụ, Tạ Doãn giả vờ vô tội đối mắt với nàng chốc lát rồi không nhịn được, tay và miệng cùng đê tiện, hắn hơi khom người nắm cằm Chu Phỉ, nói nhỏ:

    – Nếu ta sớm biết Chu đại hiệp này cuối cùng hời cho ta, thì năm xưa lúc xông vào sông Tẩy Mặc ban đêm, ta nhất định sẽ ăn mặc chưng diện cho đẹp chút, khinh công cũng nhất định có thể phóng khoáng hơn chút.

    Chu Phỉ như cười như không:

    – Đi gặp rong tinh thì chàng muốn chưng diện thành gì?

    Tạ Doãn đảo mắt, khom lưng ghé bên tai nàng nói gì đó, không biết là hạ lưu vô sỉ thế nào mà nói xong liền lập tức nhảy vọt đi, vừa vặn tránh thoát chuôi đao của Chu Phỉ chỉa vào bụng hắn.

    Hắn đưa tay xoa ngực nói:

    – Tiểu sinh đã cầu hôn sáu lần, bị cha mẹ nàng nhét cho 12 cây đinh cứng mềm, làm miệng đầy răng sắt, ai dè cưới về nhà rồi ngày ngày bị đánh, khổ quá á à a..

    Mấy chữ cuối cùng, Tạ Doãn đặt ra thêm làn điệu, vừa nói vừa hát cũng không làm trở ngại hắn nhảy ra xa hơn trượng trong nháy mắt, còn quay đầu nói với Chu Phỉ:

    – Triệu Uyên đến nay vẫn bị khúc "Bạch cốt truyện" của ta hát làm ngủ không yên, nếu nàng còn bắt nạt ta nữa, ngày mai ta sẽ viết "Nam đao truyện" vạch trần vị đại hiệp nào đó bề ngoài đạo mạo mà hễ nói một câu không hợp là ngược đãi đánh đập thư sinh yếu đuối.. ha ha, A Phỉ, khinh công của nàng cần luyện thêm đấy.

    Khinh công của Chu Phỉ quả thực không bằng hắn, dẫu sao nàng bẩm sinh kém cỏi, dưới cổ chẳng phải chân.

    Hai người một đuổi một chạy, chớp mắt đã chạy nửa cái đảo.

    Bỗng bước chân Tạ Doãn dừng lại, điểm nhẹ lên một tảng đá như không hề dùng sức, không làm kinh động bụi bặm bên trên, hắn chắp tay sau lưng vẫy Chu Phỉ.

    Chu Phỉ ló đầu nhìn, phát hiện hai người đã bất giác đến chỗ hai nấm mộ.

    Hai tấm bia đá hàng xóm láng giềng này ở nơi ba mặt là đá, giống như bị đá ngầm san sát của thiên nhiên vây thành một mảng thiên địa nhỏ, vô cùng u tịch, một mặt rộng rãi hướng về phía Đông Hải mênh mang, vừa nhìn là có thể thấy nơi trời biển giao nhau.

    Đồng Minh đại sư đang cầm cây chổi dài nhàn nhã quét bụi trên hai tấm bia mộ.

    Lão tăng và bia đá trong tiếng sóng biển rì rào toát lên cảm giác yên bình khó tả.

    Tạ Doãn ra dấu với Chu Phỉ, nắm tay nàng lướt nhẹ qua một bên, hai người vòng đi sau tảng đá lớn, không quấy rầy Đồng Minh đại sư.

    Đi xa rồi, Tạ Doãn mới nhẹ nhàng nói:

    – Sư phụ ta thân phận đặc thù, nhánh của họ từ sau khi vong quốc luôn ẩn cư ở Đông Hải Bồng Lai, mấy vị sư thúc khác đều là hậu nhân của trung thần theo hầu năm xưa, nếu không vì ta thì lão nhân gia sẽ không rời đảo, chỉ có mấy vị sư thúc thỉnh thoảng ra ngoài làm chân chạy vặt. Năm xưa Trần sư thúc nhiều lần được Sơn Xuyên kiếm nhờ vả làm giúp ông ấy mấy thứ như khôi giáp binh khí, nàng biết đấy, bản tính Trần sư thúc lười xã giao, đều là tiểu sư thúc thay ông làm người sai vặt đưa tin, thường xuyên qua lại nên có chút giao tình với Ân đại hiệp.

    Nói tới đây Chu Phỉ đã hiểu, nàng nói tiếp:

    – Sau đó ông ấy nghi ngờ cái chết của Ân đại hiệp?

    Tạ Doãn gật đầu:

    – Sơn Xuyên kiếm, Nam đao.. lão Nam đao, và chuyện của ta khi đó nữa, đến lúc chết ông ấy vẫn luôn canh cánh trong lòng, di nguyện là muốn ta đi truy tra Hải Thiên Nhất Sắc, tìm một lời ăn nói.. bây giờ hai người họ làm hàng xóm láng giềng, hẳn là có thể mặt đối mặt ăn nói với nhau rồi.

    Bước chân Chu Phỉ hơi khựng lại.

    Hải Thiên Nhất Sắc như một cái cớ mà tất cả mọi người đều ngầm hiểu trong lòng, kiềm chế lẫn nhau, tất cả mọi người đều muốn lợi dụng cái cớ này mà giữ kín như bưng.

    48 trại vốn đã đông người, sau đó Chu Dĩ Đường lại mang về một nhóm tâm phúc, có thể nói là đông người phức tạp, có mấy lời đến nay nàng vẫn chưa có cơ hội hỏi rõ, lúc này đang ở đỉnh Đông Hải, tầm nhìn bốn phương rộng rãi, vừa nhìn là nắm được tất thảy, nàng mới châm chước từ ngữ, hàm súc nói:

    – Vị kia thật sự không phải họ Triệu à?

    Tạ Doãn hơi cong khóe mắt, cũng trả lời hàm súc:

    – Mấy thế hệ Triệu gia bọn ta do dự thiếu quyết đoán, lòng dạ đàn bà, đặc biệt dễ máu nóng lên đầu, phàm việc gì cũng nghĩ như lẽ đương nhiên, bản lĩnh ngâm gió ngợi trăng thì không tệ, lý luận suông khua môi múa mép cũng là cao thủ, nhưng không đem ra thực tế được. Từ tiên đế đến cha ta rồi đến ta đều là một kiểu, chưa từng cho ra nhân vật xuất sắc.

    Chu Phỉ quay đầu nhìn quanh theo bản năng, nhưng tầm mắt bị mộ bia ngăn lại, nàng nhìn hai cái mộ bia hàng xóm ấy:

    – Lương Thiệu rốt cuộc mưu đồ gì?

    Tạ Doãn khẽ nói:

    – Lúc đó tên đã lên cung, phía nam trù tính rất lâu, tập kết mấy vạn đại quân, bứt dây là sẽ động rừng, một khi bị phát hiện.. chắc chắn tứ phương hỗn loạn, Đại Chiêu thật sự vong quốc.

    Chu Phỉ kinh ngạc:

    – Bên kia không ai họ Triệu, chẳng phải cũng là vong quốc sao?

    Tạ Doãn vươn người, đưa tay biếng nhác khoác vai Chu Phỉ:

    – Bản đồ chưa từng thay đổi, văn võ toàn triều chưa từng đổi chí, giang sơn chưa từng đổi họ, quan trọng nhất là, những nguyện vọng năm xưa của tiên đế có không gian thực hiện, tân chính mà tiên đế và Lương công luôn tâm niệm có thể thực thi ở Giang Nam. Khi tân đế còn nhỏ chỉ có thể dựa vào Lương Thiệu, khi cánh ngài ấy cứng rồi, dù Lương Thiệu đã chết cũng có Hải Thiên Nhất Sắc âm hồn bất tán, ngài ấy chỉ có thể bước tiếp trên con đường định sẵn, nội trong hai đời, thiên hạ ắt an định, đến lúc đó nàng đứng trên mỏm đá nhìn về đông, mênh mông một mảng, trời biển nối liền, có gì khác biệt?

    Tạ Doãn nói rất hời hợt, ngữ khí trầm bổng du dương, chỉ thiếu cái bàn nhỏ và cái kinh đường mộc là có thể thu tiền thưởng, đích thân biểu diễn cho Chu Phỉ xem hậu nhân Triệu thị là thứ bùn nhão không thể trát tường thế nào.

    Tiếp đó, móng vuốt hắn lại vô cùng không quy củ gãi gãi cằm Chu Phỉ, sáp lại bên tai nàng nói:

    – Chúng ta đi Liễu gia trang trước, đợi xem xong náo nhiệt, ta dẫn nàng đi cố đô chơi nhé? Qua mùa đông, chúng ta lại đi tái ngoại ngắm cỏ non và dê con.

    Chu Phỉ đập móng vuốt hắn ra:

    – Cút, có làm gì nghiêm túc chút được không? Chỉ biết chơi thôi, nếu đại đương gia có việc sai ta..

    Tạ Doãn cười híp mắt ngắt lời nàng, thong thả bổ sung:

    – Còn có thể dùng giá cao mua vài con dê nướng ngay tại chỗ, ngoài cháy trong mềm, không cần bỏ thêm nhiều hương liệu, chỉ tí muối thôi là đã thơm ngon vô cùng.

    Chu Phỉ:

    –.. Để ta viết thư báo mẹ ta một tiếng. HẾT

    Đôi lời của editor

    Ngày 18/3/2017, mình bắt tay edit những con chữ đầu tiên của "Hữu Phỉ", thấm thoắt đã hai năm ba tháng trôi qua, cuối cùng cũng xem như tạm đặt dấu chấm cho một hành trình. Đây là bộ truyện cực kỳ ý nghĩa trong đời edit của mình, là bộ truyện hiếm hoi khiến mình rung động tận sâu trong tâm hồn, cùng khóc cùng cười với mỗi nhân vật, cùng thấm thía những đạo lý sâu xa mà tác giả muốn gửi gắm qua từng câu chữ. Lúc buồn, đọc "Hữu Phỉ" để vui; lúc vui, đọc "Hữu Phỉ" để biết trân trọng hơn những niềm vui ấy; lúc bận rộn, tranh thủ đọc vài dòng "Hữu Phỉ" để thư giãn tinh thần; lúc bình tâm, đọc "Hữu Phỉ" để ngẫm từng câu chữ, từng triết lý ẩn sau những lời cứ tưởng bâng quơ. Nói chung, hồi mới đọc "Hữu Phỉ", mình ghiền tới nỗi không dứt ra được, câu cửa miệng của mình khi gặp bạn bè là: "Thế giới chia thành hai loại người: Người đã đọc" Hữu Phỉ "và người chưa đọc" Hữu Phỉ "." Trong đời đọc ngôn tình của mình, hiếm có truyện nào khiến mình có cảm nhận sâu sắc và yêu thích đến nhường này.

    Bởi vậy, mình đã cố gắng hết sức để truyền tải cái hay cái đẹp của truyện qua từng câu chữ. Ngày 5/12/2018, bản edit thô hoàn tất. Sau đó mình bắt tay chỉnh sửa, biên tập lại từ đầu đến cuối. Dù đã nỗ lực hết mình nhưng do năng lực có hạn, bởi vậy chắc chắn vẫn còn rất nhiều lỗi, rất nhiều sai sót. Có lẽ sau này một ngày nào đó, khi khả năng của mình tiến bộ hơn, mình sẽ quay lại biên tập nó một lần nữa.

    Hai năm ba tháng, khoảng thời gian không dài cũng chẳng ngắn với đủ mọi thăng trầm buồn vui trong quá trình edit "Hữu Phỉ", nhiều lần nản muốn bỏ cuộc, muốn mặc kệ mọi thứ, nhiều lần phải tạm dừng edit giữa chừng vì đủ lý do.. nhưng rồi mình vẫn đứng dậy, vẫn tiếp tục. Chưa rù quến mọi người ghiền "Hữu Phỉ" thì sao mình có thể cam tâm từ bỏ chứ?

    Trong khoảng thời gian ấy, sự ủng hộ và giúp đỡ hết mình của bạn bè và độc giả gần xa cũng là nguồn động viên rất lớn giúp mình hoàn thành tác phẩm này. Cho phép mình gửi vô vàn lời cám ơn sâu sắc đến em Liễu Y Vân, em Lê Uyên Hoàng Hạnh và bạn Jenny Hồ đã design tặng mình những poster rất đẹp cho truyện; cám ơn em Lê Uyên Hoàng Hạnh, em Thu Hoài, em Jas, em Nhi Cá và bạn Đặng Trà My đã design giúp những câu trích dẫn đẹp cho truyện; cám ơn em Bùi Thị Tường Vy giúp đóng ebook truyện; cám ơn chị Hàn Vũ Phi đã tìm cho em raw những chương cuối và ngoại truyện trên Tấn Giang; cám ơn cô Dung đã gửi tặng con bản sách "Hữu Phỉ" tiếng Trung làm kỉ niệm; cám ơn chị Trâm và chị Phương đã giúp đỡ mang món quà từ phương xa của cô Dung đến tay Lam; cám ơn em Quy (Thy) giúp sub các video về "Hữu Phỉ" cũng như luôn đồng hành cùng tám nhảm và chia sẻ đủ thứ linh tinh về truyện; cuối cùng là cám ơn các bạn độc giả không ngại khó khăn theo dõi và chờ đợi từng chương mỏi mòn mà không một lời than vãn trong quá trình edit.

    Dẫu sao hành trình edit "Hữu Phỉ" đã kết thúc, dù truyện hay hay dở, có hợp gu hay không thì cũng là công sức, là tâm huyết của mình. Mong mọi người hãy tôn trọng nó.
     
  15. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 174: Bài số 1 – Người viết: Kỷ Hoài (紀淮)​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Đây là quyển sách đầu tiên tôi xem của Pi Pi, cũng là quyển sách mà tôi cực kỳ rung động.

    Lý do thích một quyển sách không gì ngoài ba yếu tố: Xây dựng nhân vật, nội dung và cách hành văn. Tạ Doãn không đứng đắn, Chu Phỉ ngầu lòi, Lý Nghiên đáng yêu.. đều rất lay động lòng tôi. Doãn ca bề ngoài phong lưu ngả ngớn nhưng thực tế nội tâm lại vô cùng đáng tin cậy. Chu Phỉ xinh đẹp, kiêu ngạo, chính trực, về sau cũng biết bông đùa. Họ đều mang trên mình phong thái nghĩa hiệp. Cơn lũ hiện thực cuốn họ trôi về phía trước, song họ đều không đánh mất bản tâm, lòng vẫn vẹn nguyên chí hướng.

    "A Phỉ, ngoài quỷ thần ra, kẻ cất bước giữa thế gian đều là phàm nhân, vì sao con không dám tin, rằng đao trong tay mình có thể không gì không phá?" Đó là cái dũng của quyết chí tiến lên, không sợ hãi, không lùi bước. Cái dũng ấy của A Phỉ không phải là cái dũng của kẻ mãng phu, cô biết rõ trình độ bản thân mình. Có một bài đồng nhân ca "Hữu Phỉ" mà tôi cực kỳ thích, đó là bài "Chỉ bút xuân thu", tôi nghe đi nghe lại rất nhiều lần, vô cùng thích phần phối âm của nó:

    "Hậu nhân của danh môn." A Phỉ nói: "Không, ta vẫn chưa xứng."

    Từ đầu đến cuối, trong lòng cô luôn mang niềm kính nể.

    Doãn ca nói: "Tay cô cầm vũ khí sắc bén, chỉ cần mũi đao hướng về phía trước là có thể vượt mọi chông gai, không chỗ nào không thể đi. Sinh tử, tôn ti, anh hùng hay hèn nhát, vô số con đường đặt dưới chân cô, đúng sai phải trái hiền ngu trung gian, đều chỉ trong một ý nghĩ của cô, còn chưa đủ may mắn sao?" Tôi thật sự rất cảm động, nghe đi nghe lại rất nhiều lần. Đoạn sau là "Cô có biết đa số người sống ở đời, hoặc bị hạn chế bởi xuất thân, hoặc bị hạn chế bởi tư chất, đều chỉ có thể phó mặc cho số mệnh, không thể làm chủ, chưa bao giờ có cơ hội lựa chọn?", giọng anh bàng bạc mang đến cho tôi cảm giác Doãn ca nhìn mọi việc vô cùng thấu suốt. Siêu siêu thích. Một con người lập thể, đa diện, sinh động, đầy sức lay động lòng người. Đoạn đầu Doãn ca sợ A Phỉ bị hỏa thiêu nên lao đi tìm cô, nỗi lo lắng trong nháy mắt ấy, hành vi không lý trí ấy càng khiến anh thêm đầy đặn, thêm khiến người ta yêu thích và rung động.

    Văn của Pi Pi luôn phóng khoáng, văn cổ đại tự có cảm giác chính trực mênh mang nhưng lại thể hiện rất nhiều mặt và tinh tế, lơ đãng đi vào lòng người.

    Tôi nhớ mãi khi nhìn thấy câu được in trên trang bìa sách "Hữu Phỉ" : "Ánh trăng cô độc tự soi, lòng dạ như băng tuyết", tôi cảm động ngay tức khắc. Phảng phất như tôi có thể thấy dáng vẻ họ không thẹn với lương tâm, lòng dạ như băng tuyết, đứng ngạo nghễ trong trời đất.

    Ngoại truyện của sách không dài nhưng khiến tôi mãi khó bình tâm. Cuộc đời Ân Bái rốt cuộc là lỗi của ai đây, chẳng qua là tạo hóa trêu ngươi, người đành bất lực mà thôi. Bên cạnh chuyện giang hồ của thế hệ trẻ, giang hồ của thế hệ trước cũng khiến người ta xúc động. Một giang hồ được vẽ nên chỉ với dăm ba câu: Mỹ nhân ca múa, thỏa thuê uống rượu chơi cờ, các tiền bối giao du với nhau lấy chữ nghĩa làm đầu, chân thành đối đãi. Hào nghĩa giang hồ sống động trên trang giấy.

    Hoàng thành thăm thẳm gió mưa có lúc nào ngơi.

    Lời tuy ít ỏi nhưng ý nghĩa vô vàn.

    Về mặt nội dung, từ đầu đến cuối truyện luôn có sự xen kẽ lẫn nhau. Văn của Pi Pi dường như đa phần đều rất hùng vĩ, rất sâu sắc. Mà sâu sắc nhiều lúc sẽ lộ vẻ khô khan, nhưng văn của Pi Pi lại biết đan cài nhiều tình tiết thú vị gây cười khiến các nhân vật trở nên đầy đặn hơn. Xem tiểu thuyết mà, nhiều lúc chỉ là một thú tiêu khiển, làm thế nào để luôn thu hút độc giả là điều rất quan trọng. Về mặt này, cách hành văn của Pi Pi khiến tôi rất thích, nó không chọc cười nhảm nhí mà biết cách điều hòa, khắc họa nhân vật theo cách tài tình. Tôi cảm thấy câu chữ hay nhất không gì khác ngoài mang đến cho người ta ấm áp. Nó không chỉ là một câu chuyện, nó còn mang đến những thay đổi tích cực cho cuộc sống của chính bạn. Bất luận thay đổi ấy lớn hay nhỏ đều đáng để vui vẻ. Cám ơn văn của Pi Pi mang đến cho tôi niềm vui và cảm xúc, cùng tôi vượt qua một quãng thời gian không ngắn cũng chẳng dài.

    Hi vọng tình yêu trong văn Điềm Điềm luôn bền lâu, cũng nguyện mỗi người chúng ta khi đứng trước mũi đao sắt lạnh có thể nhìn thấy ánh mặt trời.

    1/5/2019
     
  16. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 175: Bài số 2 - Người viết: Bắc Yến Hành 北是行​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    ĐỆ NHẤT THIÊN HẠ CHO TA XEM VỚI!

    Nhiều năm về trước, ở sông Tẩy Mặc lặng yên êm ả, Tạ Doãn gặp tiểu cô nương ngước mắt thì ngây thơ cụp mắt thì lạnh nhạt. Lúc ấy, đao của nàng vẫn chưa thành hình, thân thủ cũng chưa đẹp đẽ. Ở sân nội viện 48 trại, hắn thậm chí không biết tiểu cô nương đó mang lá gan không sợ trời không sợ đất thế nào mà dám chống lại mẹ nàng, nói "bà thả hắn đi, tôi đứng đây cho bà đánh gãy chân". Lần sơ ngộ có chút kịch tính ấy, hắn đưa phụ thân nàng đi.

    Sau đó duyên trời run rủi, họ gặp lại nhau ở địa lao của Hoắc gia bảo. Hắn giật mình, rong tinh ấy đã thành đại cô nương, hắn nhất thời hơi lúng túng vì mạo phạm giai nhân. Nhưng lúc đó hắn là kẻ lạc quan không hiện thất tình trên mặt, nàng là chày gỗ không để tâm việc gì cả, thế mà không ai thấy ai xa lạ, thật ứng với câu "Có kẻ bạc đầu mà vẫn lạ, Người thì ngả nón đã tri âm" . Hắn chỉ lối thoát cho nàng, nhưng "chày gỗ" mới ra ràng kia rất có khí phách anh hùng gặp chuyện bất bình rút đao tương trợ, liều lĩnh quay lại, đồng thời lỗ mãng va phải mảnh chân tâm sớm đã nguội tàn của hắn.

    Hai người ầm ĩ cả quãng đường, hắn luôn thích chọc giận nàng rồi lường trước mà tránh một đao không thể kiềm chế của nàng.

    Kỳ thực Pi Pi không thật sự miêu tả nhiều về tình cảm, nhưng khi nhớ lại, tôi phát hiện hóa ra giữa A Phỉ và Mốc Mốc có nhiều chi tiết nhỏ đáng thưởng thức như thế, từng chút từng chút đều toát vẻ vô lại và ngọt ngào.

    Tôi cực kỳ thích đoạn ở khách điếm của chưởng quỹ mập, A Phỉ đá một cước văng cả ghế dài và Tạ Doãn tránh một chiêu tung tới, cũng cực kỳ thích Tạ Doãn bỉ ổi mặt dày, võ công bị phong bế cũng không sao cả, biết trốn là được.

    Có một chi tiết mà tôi ấn tượng sâu sắc, đó là Tạ Doãn tức giận muốn bốc khói khi Chu Phỉ cãi hắn chạy đi chặn hậu tiện thể chọc tới Thanh Long chúa. Bề ngoài Tạ Doãn là người vô lại láu cá nhưng bản chất vẫn là một thiên hoàng quý tộc quy củ lễ độ, bụng đầy lửa giận mà nghẹn họng không thốt được lời mắng chửi nào, đã thế Chu Phỉ còn rất không tự giác tiếp tục thêm dầu vào lửa.

    Và cuộc chiến tranh lạnh của hai người khiến người ta dở khóc dở cười.

    Tạ Doãn hẳn là người rất chín chắn, nhưng tôi xem cả bộ truyện thì điều ấn tượng sâu sắc nhất là sự ấu trĩ không đáng tin cậy thể hiện ngoài mặt của hắn. Lần nào cũng vậy, chuyện gì hắn cũng nghĩ thấu đáo, hắn là người bị hiện thực và đau khổ mài giũa đến cực hạn mà trở nên chín chắn, thế nhưng ngoài mặt lại cứ nghiêm túc gây chuyện với A Phỉ, đúng là ngọt lịm.

    Tôi đọc truyện rất nhiều năm, nhưng chưa từng thích một cô gái nào đến mức như A Phỉ.

    Kỳ thực nàng khá phóng khoáng, đánh một trận là quên hết đầy bụng ấm ức, dù nàng có tính xấu không sửa được, có sự ngây thơ hơi lạnh nhạt và lỗ mãng không rành thế sự. Nhưng trong quá trình xuống núi lăn lộn chốn giang hồ, sự ngây ngô ấy đã mài ra lưỡi đao khí phách. Hung tàn, lạnh lẽo, vô thường, nàng bị tiền nhân và hiện thực xô đẩy đến bên vách núi mài ra sự sắc bén không gì cản nổi, đánh đâu thắng đó. Trong thoáng ngẩn ngơ, thỉnh thoảng người khác mới phân biệt được dung mạo mềm mại như thuở ban đầu và sự tỉ mỉ ẩn sau vẻ kiêu ngạo bướng bỉnh của nàng.

    Quãng đường họ đi rất gian nan, khiến người ta cảm nhận được sự ngọt ngào và có chút xót xa.

    Giống như văn án nói, nguyện người đứng trước mũi đao sắt lạnh, có thể nhìn thấy ánh mặt trời. Đại khái có thể xem là một lời chúc phúc nhẹ nhàng nhỉ.

    "Hữu Phỉ" là giang hồ tôi thích nhất, tôi cực kỳ thích đao của A Phỉ, con gái vốn nên như vậy, dù lang sói nắm quyền thì mũi đao sáng ấy vẫn như ánh mặt trời sớm tinh mơ.

    8/8/2018
     
  17. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 176: Bài số 3 - Người viết: Ngật Quốc Vương Đích Ngư 吃国王的鱼​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    PHÂN TÍCH BỪA VỀ TÊN QUYỂN

    Xem mục lục "Hữu Phỉ" là có thể nhận ra, Điềm Điềm đặt tên quyển rất có tâm, tên quyển đều lấy từ thơ cổ, nên hôm nay tôi viết một bài phân tích về tên quyển, tiện thể học hỏi thêm kiến thức về thơ cổ cũng không tồi.

    Bài phân tích này theo quan điểm cá nhân, nếu không đúng cũng xin giơ cao đánh khẽ.

    Quyển 1: Mưa núi toan sang, gió ngập lầu (chương 1-11)

    Trích từ bài "Hàm Dương thành đông lâu" của Hứa Hồn.

    "Mây khe vừa nổi, nắng chìm gác. Mưa núi toan sang, gió ngập lầu." (câu thơ dịch của Trần Trọng San)

    Quyển thứ nhất bắt đầu khi các nhân vật xuất hiện và kết thúc ở Chu Dĩ Đường rời nhà ra đi, chủ yếu giới thiệu khái quát về 48 trại.

    Chu Dĩ Đường rời đi là thất bại đầu tiên Chu Phỉ khắc cốt ghi tâm, cũng là mắt xích quan trọng trong quá trình trưởng thành của nàng, từ đó nàng biết "lựa chọn" là đạo của kẻ mạnh. Tạ Doãn truyền tin, Chu Dĩ Đường ra đi, bức màn loạn thế được vén lên một góc, chốn đào nguyên trông như hoàn hảo đã che đi một lớp bóng mờ, tức "mưa núi toan sang", gió đã thổi đến Thục Trung rồi.

    Quyển 2: Nhà muôn dặm một ly rượu đục (chương 12-44)

    "Nhà muôn dặm một ly rượu đục, Yên Nhiên chưa tạc về sao được." (câu thơ dịch của Nguyễn Chí Viễn)

    Trích từ bài "Thu tứ" (Ngư gia ngạo) của Phạm Trọng Yêm.

    Quyển thứ hai tên như ý nghĩa, các thiếu niên giang hồ bước khỏi chốn đào nguyên cũ, lần đầu nhìn ngắm thế giới bên ngoài, cảm giác mới lạ nhanh chóng bị chôn vùi bởi cảnh tiêu điều xơ xác, đích thân trải nghiệm nóng lạnh nhân gian.

    Từ chương 15 xuống núi tới chương 95, A Phỉ mới xem như về đến nhà. Những khó khăn trong đó không đếm xuể, đường về quê thăm thẳm xa xăm. A Phỉ không còn giới hạn trong chốn đào nguyên năm xưa nữa mà đã rèn luyện được lưỡi đao qua vô số lần ngàn cân treo sợi tóc.

    Quyển 3: Bụi vàng phủ hết anh hùng (chương 45-72)

    "Xưa nay trên con đường dưới núi Bắc Mang, bụi vàng cuồn cuộn không biết đã che phủ bao nhiêu anh hùng, đời người luôn có nỗi oán hận như nước quanh năm luôn chảy về đông." (Kim cổ Bắc Mang sơn hạ lộ, Hoàng trần lão tận anh hùng, Nhân sinh trường hận thủy trường đông)

    Trích "Lâm giang tiên" của Nguyên Hảo Vấn.

    Ở quyển này, A Phỉ và Tạ Doãn dính vào ân oán giữa Sơn Xuyên kiếm và Thanh Long chúa. Truyền nhân Bắc đao bỏ mạng, hậu nhân Sơn Xuyên kiếm xen lẫn đám gian tà. Liên tưởng tới sự ngã xuống của Khô Vinh thủ ở quyển 1, không thể không thở dài cảm khái đời người nhiều nỗi hận.

    Anh hùng già yếu, mỹ nhân tuổi xế chiều, là điều không giữ được ở nhân gian, cũng là nỗi bi thương lớn nhất khiến người ta xúc động.

    Song, A Phỉ mơ thấy Nam đao, Khô Vinh chân khí lưu chuyển trên người nàng, cũng khiến người ta sinh hi vọng, trông ngóng một truyền kỳ của thời đại mới.

    Quyển 4: Ánh trăng cô độc tự soi, lòng dạ như băng tuyết (chương 73-95)

    "Cảm hoài vầng trăng sáng lẻ loi tự chiếu, bao nhiêu năm quẩn quanh giữa núi non và biển cả mà lòng vẫn sáng trong như băng tuyết." (Ứng niệm lĩnh biểu kinh niên, Cô quang tự chiếu, Can đảm giai băng tuyết)

    Trích "Quá Động Đình" (Niệm nô kiều) của Trương Hiếu Tường.

    Quyển thứ tư đầy mùi khói lửa bao phủ 48 trại – nơi từng là một chốn đào nguyên. Phản loạn trước mắt, đại đương gia ở ngoài, A Phỉ bắt đầu học gánh vác 48 trại, làm thế nào để lập uy, dùng người như thế nào.. Còn Tạ Doãn hối hận vì để lộ chút tâm tư "tiểu nhân" của mình.

    Nhưng dù A Phỉ cố học làm thủ lĩnh ra sao chăng nữa, cô cũng không có năng khiếu làm lá ngọc cành vàng sợ chết, vẫn xách đao làm châu chấu đá xe. Tạ Doãn cảm thấy mình mang lòng dạ tiểu nhân, nhưng không ngại phát độc mà ngăn chưởng của Cốc Thiên Toàn.

    Họ đều có lòng dạ sáng trong như băng tuyết.

    Quyển 5: Thơ vạn quyển, rượu ngàn chung (chương 96-120)

    "Thơ vạn quyển, rượu ngàn chung, mấy khi nhìn đến hầu vương?" (Thi vạn thủ, rượu thiên thương. Kỷ tằng trứ nhãn khán hầu vương)

    Trích "Tây đô tác" (Giá cô thiên) của Chu Đôn Nho.

    Quyển thứ năm viết về hai người Phỉ Doãn, Thấu Cốt Thanh của Tạ Doãn và tâm trạng dao động của A Phỉ. Sau khi trải qua nỗi tuyệt vọng tột cùng, A Phỉ ngộ được cảnh giới "vô thường", cầm thanh Toái Già đi về hướng ánh sáng.

    Tạ Doãn đầu thai vào vương tôn quý tộc, nhưng số mệnh đã định hắn gắn bó với "đại thổ phỉ" chốn núi rừng.

    Nơi lòng ta an ổn chính là quê hương, hà tất ngó đến hầu vương?

    Quyển 6: Tỉnh giấc xuống đò rời bến sớm, tương tư ngàn dặm vọng trăng lầu (chương 121-157)

    Trích "Đối tuyết túy hậu tặng Vương Lịch Dương" của Lý Bạch.

    Quyển thứ sáu Phỉ Doãn không thể gặp được nhau, cùng lắm là A Phỉ gặp Doãn lúc không còn ý thức. A Phỉ rời khỏi Đông Hải, trải qua phong ba bão táp chốn giang hồ nhưng luôn mang sợi tương tư thắt vào người Tạ Doãn băng qua sơn thủy, dù cách trở xa xôi ngàn dặm cũng không hề có sự cách ngăn.

    Có nỗi tương tư ấy, dù nhất thời bỏ lỡ cũng không sao.

    Quyển 7 (quyển cuối) : Ráng chiều cò lẻ cùng bay, nước thu trời rộng là đây một màu (chương 158-cuối)

    Trích "Đằng Vương các tự" của Vương Bột.

    Quyển này là cao trào nội dung và tuyến tình cảm, hai người bị đẩy đến cực hạn rồi hồi sinh, Nam Bắc triều thống nhất, dòng máu nóng lại chảy trong cơ thể Tạ Doãn. Ân Bái, Mộc Tiểu Kiều, Nghê Thường phu nhân, Triệu Uyên, Thẩm Thiên Khu, Ưng Hà Tòng.. đủ loại người đan dệt nhau chấn động lòng người, cuối cùng trần ai lắng đọng, Khô Vinh chân khí và Đoạn Thủy Triền Ti đều tỏa sáng rực rỡ.

    "Cho nên người đã khuất không phải vô hình vô ảnh, mà vùi chôn trong xương máu người còn sống."

    Giang sơn đời nào cũng có nhân tài, mỗi người một vẻ rạng ngời trăm năm.

    23/4/2019
     
  18. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 177: Bài số 4 - Người viết: Linyikr​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    NGUYỆN NGƯỜI TRƯỚC MŨI ĐAO SẮT LẠNH,

    CÓ THỂ NHÌN THẤY ÁNH MẶT TRỜI

    Năm 2017, tôi gom tiền mua quyển sách do họa sĩ tôi thích vẽ trang bìa, đó là quyển "Hữu Phỉ 1: Thiếu niên du". Sau khi xem quyển sách ấy, tôi bắt đầu những ngày tháng đu theo Pi Pi.

    "Hữu phỉ quân tử, Như thiết như tha, Như trác như ma." Vừa nhìn tên sách là tôi nghĩ ngay đến bài "Kỳ áo" (Vệ phong) này trong "Quốc phong" (Kinh thi), tưởng đây là tiểu thuyết ca ngợi hình tượng nam chính. Tra cứu nghĩa thì "phỉ" (匪) chỉ "phỉ" (斐), ngụ ý cái đẹp của quân tử là ở tích lũy học hành giáo dục, tu dưỡng đạo đức. Sau đó tôi xem tiểu thuyết thì thấy có lẽ là một từ ba ý. "Hữu Phỉ" một là chỉ "phỉ" của nam chính Tạ Doãn – mỹ nam tam công chúa; hai là chỉ "phỉ" của nữ chính Chu Phỉ, hoa núi như phỉ; ba là chỉ "phỉ" của 48 trại – phụng chỉ làm phỉ, nơi do hiệp khách giang hồ Nam đao Lý Chủy lập ra ở Thục Sơn để thu nhận những kẻ cùng đường trong thiên hạ.

    Anh hùng không sợ gian nguy, đao kiếm vĩnh viễn hướng về phía trước. Đúng như tiêu đề phụ của sách xuất bản: Thiếu niên du – ly hận lâu – đa tình lụy – vãn sơn hà, tiểu thuyết này kể về câu chuyện truyền kỳ của thanh niên Tạ Doãn và thiếu nữ Chu Phỉ rèn luyện qua khó khăn trắc trở để trưởng thành thành anh hùng một đời. Giang hồ mưa gió mịt mù, hậu nhân Nam đao – Chu Phỉ phụng mệnh mẫu thân rời khỏi nơi mình sinh ra và lớn lên là 48 trại để xuống núi chấp hành nhiệm vụ, bất ngờ gặp lại Tạ Doãn – thanh niên từng xông vào sơn trại lúc đêm khuya khiến phụ thân nàng rời nhà xa xứ, hai người cứ thế cuốn vào phân tranh giang hồ sâu không lường được. Khi bí mật động trời "Hải Thiên Nhất Sắc" bị phủ bụi 20 năm dần dần bị vạch trần, hiệp khách giang hồ thế hệ trước lui về thoái ẩn, các thiếu niên thiếu nữ cũng từng bước trưởng thành thành "hữu phỉ quân tử" chân chính. Đoạn cuối truyện, thân thế Tạ Doãn dần được tiết lộ, Chu Phỉ cũng trở thành tân Nam đao, tiểu thư nhà quan đồng hành cùng họ – Ngô Sở Sở trưởng thành thành người chỉnh lý thành công di tích các phái, Lý Thịnh bị tỷ muội hà hiếp cũng trưởng thành thành người dẫn đầu võ lâm thời đại mới, Lý Nghiên chỉ biết gào khóc cũng có thể một mình cáng đáng một phương.

    "Hồng y giai nhân bạch y hữu, Triêu dữ đồng ca mộ đồng tửu." Thế giới giang hồ có thơ có rượu, có cầm được buông được, có ân oán và yêu hận tình thù. Vô Thường và Tề vật quyết trong đao pháp Chu Phỉ, vẻ phong lưu và Thấu Cốt Thanh của Tạ Doãn "dưới cổ toàn là chân", Lý Thịnh bỏ nhà ra đi, Lý Nghiên miệng rộng, Ngô Sở Sở nghiêm túc, Dương Cẩn đen, Ưng Hà Tòng mặc nữ trang, Vô Thất của Lý Cẩn Dung, Chu Dĩ Đường nho nhã, xương trắng của Lương Thiệu, Vô Phong của Lý Chủy, Đoàn Cửu Nương si tình, Vũ Y ban của Nghê Thường phu nhân, Đồng Minh đại sư đạm nhạt, Sơn Xuyên kiếm của Ân Văn Lam, Sưu Hồn châm của Kỷ Vân Trầm, Phù Dung thần chưởng của Hoa Chính Long, Ân Bái âm u, lòng yêu thích của Chu Thần, Chu Tước chúa Mộc Tiểu Kiều hỉ nộ vô thường, dây trận của Ngư lão, Bắc Đẩu thất tinh hung ác, tứ tượng núi Hoạt Nhân Tử Nhân hỉ nộ vô thường, câu "Những người chúng ta, không gò không bó, không lễ không pháp, không cần lưu danh muôn thuở, không ngại tiếng xấu muôn đời, chỉ cầu không thẹn với trời, không thẹn với đất, không thẹn với mình" đầy trang nghiêm, câu "Ngoài quỷ thần ra, kẻ cất bước giữa thế gian đều là phàm nhân, vì sao con không dám tin, rằng đao trong tay mình có thể không gì không phá?" đầy kiên định.. mỗi nhân vật trong truyện đều cực kỳ sinh động, câu chuyện của mỗi người đều khiến người ta thán phục hoặc thổn thức.

    Tôi thích nhất đoạn này trong quyển 5 "Thơ vạn quyển, rượu ngàn chung" :

    "Cái gọi là" Vô Thường ", có sinh lão bệnh tử, vui quá hóa buồn, lại có tìm đường sống trong chỗ chết, cảnh còn người mất.

    Tình đời như biển cả, mà phàm nhân là chiếc lá dập dềnh theo con sóng.

    Vô Thường trong chín thức Phá Tuyết vốn mênh mang và bi thương."

    "Cuộc đời phàm nhân từ sinh ra đến chết đi, yêu hận đều vội vã, kết quả, thứ còn lại chỉ là sáu chữ" cầu không được, giữ không được "mà thôi."

    Áo quần đẹp đẽ bảnh bao,

    Cưỡi con tuấn mã phổng phao ngời ngời,

    Mang theo bảo kiếm bên người

    Tiêu dao lang bạt chân trời muôn nơi.

    Đời người ngắn lắm ai ơi,

    Hãy mau tận hưởng thú chơi cuộc đời.

    31/5/2019
     
  19. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 178: Bài số 5 - Người viết: Ái Tây Icy 爱西icy​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Xem xong "Hữu Phỉ" hơn 600 ngàn chữ, đoạn khiến tôi xúc động nhất là đoạn sau khi sư huynh chết, một mình A Phỉ bảo vệ Sở Sở bình an, lòng đầy phẫn uất nhưng đành bất lực trong tiểu viện của Đoàn Cửu Nương. Tôi nhớ mãi khi A Phỉ thấy từng thi thể các sư huynh được khiêng ra, nàng nghĩ "với tính tình của mình sẽ bất chấp tất cả lao ra liều mạng với đám người đó, dù có mất mạng cũng phải sung sướng trước rồi nói sau" ; "Nàng cảm thấy có lẽ mình sẽ khóc lớn một trận, dù sao từ nhỏ không ai dạy nàng rằng người lớn không được thể hiện buồn vui ra bên ngoài, trước giờ nàng luôn muốn khóc là khóc, muốn cười là cười. Nhưng nàng cũng không như vậy." . Thông thường, một người trưởng thành khi tất cả mọi người đều rời đi. Các sư huynh chết là lần đầu tiên A Phỉ đối diện với tử vong, cũng là một bước ngoặt trong quá trình trưởng thành của nàng, và nhẫn nại là điều đầu tiên nàng học được. "Dấu hiệu của người chưa chín chắn là sẵn lòng chết anh dũng vì một chuyện nào đó, còn dấu hiệu của người chín chắn là sẵn lòng sống thấp hèn vì một chuyện nào đó." (Bắt trẻ đồng xanh). Khoái ý ân thù, liều lĩnh chém giết không tiếc bỏ mạng rất sung sướng, đương nhiên khiến người ta hâm mộ, nhưng sau đó thì sao? Người chết không thể báo thù. Nên A Phỉ phải nhẫn nại, dù sự nhẫn nại ấy khiến nàng đau thấu tim gan. Cái nhẫn nại của nàng lúc này là để sau này có thể triệt để báo thù cho các sư huynh đã mất. Từ xưa tới nay, kẻ làm nên đại sự đều là kẻ biết nhẫn nại, Câu Tiễn nằm gai nếm mật hơn mười năm, cuối cùng báo được thù mất nước, Tư Mã Thiên không tiếc chịu nỗi khổ cung hình để hoàn thành "Sử ký". A Phỉ chung quy không để các sư huynh của nàng chết vô ích, lúc tôi xem đến đoạn A Phỉ liều mình tự tay đâm Lộc Tồn, tôi đã không kìm được buông tiếng thở dài.

    Dưới ngòi bút Pi Pi, không chỉ nhân vật chính khiến người ta thích mà nhân vật phụ cũng luôn đặc sắc. Những nhân vật ấy tuy không được miêu tả nhiều, chỉ dăm ba nét nhưng hình tượng nhân vật lại vô cùng sống động. Trong "Hữu Phỉ", Đoàn Cửu Nương và Ân Bái là hai nhân vật phụ tôi thích nhất. Đối với Ân Bái, có lẽ chỉ có thể hình dung cảm giác của tôi là "thương vì bất hạnh, giận vì không tranh". Cả đời Ân Bái tội ác tày trời, có lẽ việc tốt duy nhất hắn làm là giết Thẩm Thiên Khu, không phải vì công nghĩa trong thiên hạ mà vì tư thù cá nhân. Tôi không khỏi nghĩ, nếu không có những hiểu lầm ấy, nếu phụ thân Ân Bái không qua đời quá sớm, thì cuộc đời Ân Bái phải chăng đã khác, có lẽ hắn sẽ thành một thiếu gia công tử chơi bời, một nhân vật nổi bật rạng ngời.. nhưng loạn thế nào có nếu như. Còn Đoàn Cửu Nương, nỗi bất hạnh lớn nhất đời bà có lẽ là yêu một người không nên yêu. Đến khi bà chết, tôi khó có thể quên, A Phỉ vẫn chờ bà cùng về 48 trại, bà chưa tranh lấy một danh phận thì sao lại chết như thế chứ?

    Trước khi xem "Hữu Phỉ", đã lâu tôi không xem tiểu thuyết BG, càng không xem về đề tài võ hiệp. Ở thời đại tiểu thuyết võ hiệp dần suy thoái này, có thể xem "Hữu Phỉ" đúng là có phúc ba đời. Võ hiệp của Pi Pi có yếu tố nhân văn vững chãi, có trải nghiệm của bản thân cô ấy về nhân tính và xã hội, có hài kịch đen mang tính tượng trưng ở mọi nơi, quả là cầm lên rồi không nỡ đặt xuống, đương nhiên nếu không phải vào giai đoạn cuối kỳ thì càng tốt orz. Nhưng tuyến tình cảm giữa tam công chúa và Phỉ ca được miêu tả quá ít! Hoàn toàn không đủ ăn! Xin nữ thần lần sau viết nhiều phần tình cảm hơn nhé.

    13/5/2019
     
  20. Thu gọn
    Nếu bạn cảm thấy hay, hãy chia sẻ để ủng hộ tác giả
    Chương 179: Bài số 6 - Người viết: Ngật Quốc Vương Đích Ngư 吃国王的鱼​

    Bấm để xem
    Đóng lại
    TẠ DOÃN

    Đoan vương điện hạ "quân tử đoan chính".

    Tạ Mốc Mốc tốt không linh xấu lại linh.

    Tạ công tử phiêu diêu tao nhã.

    Trước đây khi chưa xem xong "Hữu Phỉ", tôi có đọc bài bình của một cô em, nói về Tạ Doãn như sau: "Ta thẹn cầm bảo kiếm, Chỉ vì ngắm núi thôi." Tôi rất thích lời bình của cô em, nhưng sau đó nghĩ lại, tôi cảm thấy Tạ Doãn không chỉ vì ngắm núi.

    Dù đến cuối cùng, tâm huyết thuở thiếu niên muốn thu phục sơn hà chỉ còn chút sức sống nhỏ nhoi dưới Thấu Cốt Thanh, Tạ Doãn vẫn muốn quay lại bảo vệ Triệu Uyên. Dù kiệt quệ chút sức lực cuối cùng, hắn cũng muốn liều mình ngăn Thẩm Thiên Khu.

    "Ta chết không đáng tiếc, nhưng sao có thể nhìn họ sắp thành lại bại?"

    Dẫu thế gian không thân thiện với hắn, hắn vẫn thân thiện với thế gian. Lần đầu tiên hắn xuất hiện là để thay Lương Thiệu truyền tin, nói là không nỡ phụ phó thác của anh hùng tuổi xế chiều. Lúc ở Đông Hải Bồng Lai, sức lực không đủ, cầm bút không vững, hắn vẫn viết "Bạch cốt truyện" để thêm một tầng ràng buộc với Triệu Uyên.

    Đoan vương điện hạ đích thực xứng với lời bình quân tử đoan chính.

    Hắn nói với A Phỉ rằng mình "tên tự là Mốc Mốc", có lẽ cũng mang ý tự giễu chăng?

    Thuở ấu thơ gặp đại hỏa Đông cung khắc cốt ghi tâm, từ đó hắn trở thành "con côi của Ý Đức thái tử" chứ không còn là một người biết nói biết cười. Hắn bị nhồi nhét vô số thứ "chính trị quân sự", máu của lão thái giám đã thấm sâu vào xương tủy hắn thuở còn non nớt.

    Sau đó đến khi thiếu niên khí phách, hắn trúng Thấu Cốt Thanh, nhờ sư thúc bỏ mạng cứu giúp mà sống sót. Đồng thời cũng gánh lấy nỗi ràng buộc đầy người.

    Nhưng hắn luôn mỉm cười, trừ "Hàn nha thanh" nhúng huyết lệ viết ra, hắn chưa từng tiết lộ gì về thân thế long đong, xác thịt tồi tàn của chính mình.

    Thực không dám giấu, bây giờ khi tôi gõ hai chữ "Tạ Doãn" thì từ đầu tiên mà tôi liên tưởng là "hu hu hu hu hu".

    Những khán giả bên ngoài như chúng ta thực không kìm được mà thấy "không biết đủ" cho hắn.

    Nhưng dù như thế, trái tim hắn vẫn hướng về cố đô, vẫn thà tự để lộ bản thân để lên tiếng nhắc nhở hai đứa nhóc A Phỉ và Lý Thịnh.

    Hắn muốn sống thoải mái phong lưu, quyết không chịu mày chau mặt ủ hay oán trời trách đất.

    "Trăng sáng, sương trắng, đêm khuya và ta."

    Trên sông Tẩy Mặc ngàn cân treo sợi tóc, hắn vẫn có thể dành tâm tư thưởng thức nhan sắc tiểu cô nương. Tôi nghĩ điều này không có nghĩa hắn là kẻ háo sắc mà là hắn không muốn cam chịu sống vật vờ nên luôn dành thiện ý cho tất cả mọi thứ tốt đẹp của thế gian.

    "Không có gì đáng hận cả, đừng không biết đủ."

    Có lẽ từ đầu đến cuối hắn không làm được một chính khách tốt, từ đầu đến cuối chỉ có thể mang số mệnh làm nha hoàn chải tóc cho vợ.

    Dù thân mang danh hiệu Nam Đoan vương do mũ miện vàng ngọc đúc thành, dù bị truyền nội lực thâm hậu mà người thường khó sánh, trông hắn vẫn như một công tử "ngồi nơi lầu cao gió mát nghe tiếng sáo" chứ không phải vương hầu tướng lĩnh hay đại hiệp lừng danh.

    Dù miệng mồm láu cá đến đâu nhưng khi vào khuê phòng không tính là khuê phòng của A Phỉ, hắn vẫn cẩn thận không nhìn loạn. Ngoài miệng hắn không đứng đắn nói muốn hôn mỹ nhân mới có thể yên tâm nhưng thực ra chỉ sợ mạo phạm giai nhân, cuối cùng vẫn để cô nương chủ động rồi không phụ sự mong đợi của người khác mà cứng ngắc.

    Tạ Doãn, đúng thực không thể không khiến người ta thích.

    Trong đêm trường dằng dặc chưa bị ánh mặt trời phá vỡ, hắn chưa bao giờ ai thán đêm dài tăm tối mà luôn vui vẻ chờ chân trời hửng sáng.

    Một người như thế nên sống trong trăng thanh gió mát cùng Hi Vi Phá Tuyết vui vẻ suốt quãng đời còn lại.
     
Trạng thái chủ đề:
Đã bị khóa
Trả lời qua Facebook
Đang tải...